Tại sao Ngài A Nan cách Phật 25 năm mà nói lại lời Phật dạy ?

487

HỎI: Được biết, ngài A Nan sinh ra vào ngày Phật thành đạo và năm 25 tuổi mới xuất gia. Như vậy, Phật thành đạo trước hai mươi lăm năm thì ngài A Nan mới xuất gia. Nhưng trong các kinh lúc nào cũng có câu: “Như thị ngã văn (Như vầy tôi nghe) được xem là câu nói của ngài A Nan. Vậy, những bộ kinh mà Phật thuyết trước khi ngài A Nan xuất gia thì làm sao mà Ngài nghe được, để sau này trùng tuyên lại trong các cuộc kết tập kinh điển?

ĐÁP: Chúng tôi hoàn toàn tán thán trước một “nghi vấn” rất hợp lý của sư cô! Khi đọc kinh điển Phật giáo, nếu như ai cũng biết đặt ra những suy tư, thắc mắc thì con đường hoàn thiện tri thức sẽ gần lại với mỗi người.

 Đúng như sư cô đã hiểu, ngài A Nan sanh vào năm mà Đức Thế Tôn vừa thành đạo, vào năm 25 tuỗi mới xuất gia. Trong cuộc đời của ngài A Nan, ngài đã có một sứ mạng đặc thù: đảm nhận vai trò hầu cận (thị giả) Đức Phật.

Vì lẽ, trong suốt hai mươi lăm năm đầu, Đức Thế Tôn không có thị giả riêng. Khi thì ngài Nàgasamlà, khi thì ngài Nàgita… thay nhau đảm nhận công việc thị giả. Đến năm 56 tuổi, vì quán sát căn cơ của chúng sanh và cũng như để thuận lợi hơn trong công cuộc hoằng hóa tứ chúng nên Đức Thế Tôn muốn có một vị thị giả thường trực. Trong lúc ấy, các vị đại đệ tử như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Kiên, Kiều Trần Như… đưa ra nhiều ứng viên có khả năng đảm nhiệm công việc thị giả nhưng không được Phật chấp nhận. Cuối cùng, chư vị Tỳ kheo đề nghị ngài A Nan làm thị giả. Trước tình hình này, ngài A Nan nhận lời nhưng với một lời cầu thỉnh mang tính điều kiện. Đó là ngài sẽ đảm nhận trọng trách làm thị giả cho Đức Thế Tôn nếu như Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc liên quan đến A Nan.

 Bốn việc từ chối đó là: thứ nhất từ chối không cho A Nan y, đồ ăn, một phòng riêng và được mời ăn, vì nếu không từ chối thì ảnh hưởng của tứ chúng đối với ngài A Nan sẽ không tốt. Bốn việc chấp nhận: thứ nhất nếu A Nan được mời thọ trai thì Thế Tôn sẽ sẵn lòng đi dự. Thứ hai Thế Tôn sẵn lòng gặp những người ở xa đến và do A Nan giới thiệu. Thứ ba, Thế Tôn chấp nhận cho A Nan tiếp kiến nếu như A Nan gặp phải những sự phân vân, khó xử. Thứ tư, Thế Tôn sẽ giảng lại những bài kinh khi A Nan vắng mặt. (Theo, Tiểu bộ kinh III, Trưởng Lão Tăng Kệ, chương 17, phẩm Ba mươi kệ, phần Ananda, Nxb. TP.HCM, 2000, trang 456). Trong bốn điều chấp nhận mà ngài A Nan đã đưa ra, đáng chú ý nhất là điều cầu thỉnh sau cùng: Phật sẽ giảng lại những bài kinh mà A Nan chưa được nghe. Cũng tương tự như thế, trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Bắc bản), ngài Xá Lợi Phất đã khẳng định với tứ chúng rằng, ngài A Nan hầu Phật trên 20 năm, có tám điều không thể nghĩ bàn, điều thứ năm là cầu thỉnh Đức Phật thuyết cho Ngài nghe 12 bộ kinh – Ngũ giả, tự sự ngã lai trì ngã sở thuyết thập nhị bộ kinh (Đại Bát Niết Bàn kinh, quyển 40, Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, bản điện tử, tập 12, file mang số 0374-040).

Như vậy, căn cứ vào Tiểu Bộ kinh và Đại Bát Niết Bàn kinh đều đề cập đến một lời thỉnh cầu rất mực quan trọng: xin Đức Phật thuyết cho A Nan nghe những bài pháp mà A Nan không được dự trong pháp hội đó. Đây chính là một trong những lời thỉnh cầu quan trọng để rồi từ đây, ngài A Nan có đủ điều kiện nhân duyên để nghe lại toàn bộ các pháp thoại mà Đức Phật đã thuyết, không loại trừ những bài pháp mà Đức Phật đã thuyết trước lúc A Nan xuất gia. Mặt khác, cũng nên lưu ý rằng, với  tư chất thông tuệ, ngài A Nan có một khả năng ghi nhớ tất cả những lời giảng dạy của Phật. Điều này, Đức Phật đã khẳng định như sau: “Tỳ kheo bậc nhất trong chúng Thanh văn của Ta: biết thời, rõ vật, gặp việc không nghi, ghi nhớ không quên, nghe nhiều sâu rộng, kham nhẫn kính thờ người trên là Tỳ kheo A Nan,” (Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Tăng Nhất A Hàm I, Viện NCPHVN ấn hành, 1997, tr 69). Do đó, dường như trong tất cả các kinh văn mà chúng ta thường trì tụng sau này đều được khởi đầu bằng sự khẳng định của A Nan: “Tôi nghe như vầy” và sự khẳng định đó hoàn toàn đầy đủ cơ sở vì  chính bản thân ngài  A Nan đã nghe.

 Suốt hai mươi lăm năm trời, bất kể thời gian, sự khắc nghiệt của thời tiết, điều kiện sức khỏe của bản thân mình; ngài A Nan đã bất chấp tất cả để thực hiện trọn vẹn sứ mạng thị giả hầu Phật. Ngoài công việc thường nhật hầu cận Đức Thế Tôn, ngài A Nan còn là một sứ giả truyền đạt thông tin cho tứ chúng, khởi phát nhân duyên để Phật cho phép nữ giới được xuất gia, giúp đỡ huynh đệ đồng tu trong lúc khó khăn, bệnh tật… và trên hết, công hạnh vĩ đại nhất của ngài A Nan là nhờ khả năng ghi nhớ vô song của mình mà pháp vị của Đức Thế Tôn vẫn còn lưu lộ và làm tươi nhuận nhân gian.