Văn Học Nghệ Thuật

Thiền thoại
26/11/2015 06:03 (GMT+7)
Kích cỡ chữ: GiảmTăng
Thiền thoại hay giai thoại thiền có thể dịch tiếng Pháp là Un sable de conversation, hay tiếng Anh là A piece of conversation. Đây là những mẫu chuyện nho nhỏ (có thật hoặc không) của các vị thiền sư được ghi chép lại để người tu tập khai mở tâm trí. Những mẫu chuyện nầy thường rất khó hiểu, Truyện Thiền xin trích sau đây một số thiền thoại phổ thông và dễ hiểu .

thien.png

TIẾNG THỊ PHI 

Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu. 


NGÀI CÓ ĐIẾC KHỔNG 

Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi. 


ĐẠI ĐẠO 

Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì? 〞
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?”
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả lại hỏi: “Vậy thế thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?”
Lão hòa thượng: “Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”.
Đại Đạo chí giản chí dị, tâm giản dị chính là Đạo. 


NHẶT LÁ RỤNG TRONG TÂM 

Sư Đỉnh Châu và một vị sư ngồi đọc kinh ở sân chùa, đột nhiên một trận gió thổi đến, lá trên cây rụng xuống khá nhiều. Đỉnh Châu liền khom lưng nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong đãy. Vị sư bên cạnh thấy vậy bèn nói:
– Không cần nhặt đâu, dù sao sáng ngày mai chúng ta cũng phải quét mà!
Đỉnh Châu không cho là như vậy nên nói:
– Không thể nói như vậy, tôi nhặt thêm một lá, sân sẽ sạch thêm một chút.
Vị sư lại nói:
– Lá rụng nhiều như thế, nhặt phía trước nó lại rụng phía sau, làm sao mà nhặt hết được?
Sư Đỉnh Châu vừa nhặt vừa nói:
– Không sạch lá rụng ở trên mặt đất nhưng với lá rụng trong tâm thì cũng có lúc tôi nhặt sạch. 


TÓC BẠC TÂM CHẲNG BẠC 

Năm 17 tuổi, ngài Ưu Ba Cúc Đa xin tổ Thương Na Hòa Tu cho xuất gia. Tổ hỏi:
- Ngươi được bao nhiêu tuổi?
Ngài Ưu Ba Cúc Đa thưa:
- Bạch Thầy! Con được 17 tuổi.
- Thân ngươi 17 tuổi, hay tánh ngươi 17 tuổi?
Ngài Ưu Ba Cúc Đa hỏi lại:
- Đầu Thầy có tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc?
Tổ đáp:
- Tóc ta bạc, chứ tâm ta chẳng bạc.
- Con cũng thế. Thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi. 

DỤNG CÔNG 

Luật sư Nguyên đến hỏi thiền sư Huệ Hải:
- Hòa Thượng tu có dụng công chăng?
Thiền sư Huệ Hải đáp:
- Có dụng công.
- Dụng công như thế nào?
- Khi đói thì ăn, còn mệt thì ngủ.
- Tất cả mọi người đều như vậy. Thế thì họ có đồng chỗ dụng công của Hòa Thượng chăng?
- Chẳng đồng.
- Tại sao chẳng đồng?
- Khi ăn thì họ chẳng chịu ăn. Khi đói thì họ đòi trăm món thức ăn. Khi ngủ họ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện. Do đó chẳng đồng. 


ĐÀN VỊT TRỜI 

Một hôm, Bá Trượng Hoài Hải đi hầu sau Mã Tổ Đạo Nhất. Thấy một bầy vịt trời bay ngang qua đầu, Mã Tổ hỏi Bá Trượng:
- Đó là cái gì?
Bá Trượng thưa:
- Đàn vịt trời.
- Bay đi đâu?
- Bay ngang qua.
Mã Tổ bèn nắm lô mũi Bá Trượng kéo mạnh, khiến Bá Trượng kêu thất thanh. Mã Tổ bảo:
- Lại nói bay qua đi.
Bá Trượng hỏi:
- Sao lại không cho nói như vậy?
- Ngươi sống là sống với từng hơi thở qua lỗ mũi của mình, chứ đừng hướng nhìn đàn vịt trời bên ngoài. Ngươi có biết như vậy không? 


BẮT HƯ KHÔNG 

Ngày nọ, thiền sư Huệ Tạng cùng thiền sư Trí Tạng đi dạo chơi. Thiền sư Huệ Tạng hỏi Trí Tạng:
- Sư đệ biết cách bắt hư không chăng?
Trí Tạng đáp:
- Biết.
- Làm sao bắt được?
Trí Tạng quơ tay chụp lấy hư không. Thiền sư Huệ Tạng bảo:
- Làm như thế ấy, đâu có thể bắt được hư không!
Trí Tạng hỏi:
- Sư Huynh làm sao bắt được?
Thiền sư Huệ Tạng liền nắm mũi Trí Tạng kéo mạnh. Trí Tạng đau quá, la lên:
- Giết chết lổ mũi người ta! Buông ra ngay!
Thiền sư Huệ Tạng bảo:
- Không khí là mạch sống của con người ngay trên đầu mũi. Ngươi phải làm như thế mới bắt được hư không. 


MẤT MỚI THẤY QUÝ 

Thiền sư Nhật Bản Sư Lương Khoan có hôm đang trên đường về chùa. Ông móc trong đãi ra một đồng tiền rồi ném xuống đất, rồi cúi lượm. Lập đi, lập lại cử chỉ ấy mấy lần, rồi ông lẩm bẩm: "Mấy đứa trẻ bảo lượm được tiền khoái lắm! Thế mà có khoái gì đâu?" Vừa nói ông vừa tiếp tục ném tiền. Lần này ném hơi mạnh, đồng tiền trúng đá văng đâu mất. Ông vừa kiếm vừa nói: "Chà, thế này thì bực thật!" Tìm hồi lâu, may sao gặp được, ông mừng rỡ xác nhận: "Lượm được tiền khoái thật!".
Có người hỏi : "Ông mê tiền lắm sao?"
Lương Khoan trả lời: "Không ! Nhưng thông thường cái gì hiện có đầy đủ quá, chúng ta xem thường nó, đến khi bị mất mát mới thấy quý giá và hối tiếc." 


CÓ NIẾT BÀN CHĂNG ? 

Một hôm có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật:
- Này Ngài Cù Đàm! Giáo lý của Ngài có Niết bàn không? Nếu có, thì có ai chứng được Niết bàn chưa?
- Giáo lý của ta có Niết bàn và có người đã chứng được Niết bàn.
- Vậy Ngài Cù Đàm chứng chưa?
- Ta đã chứng được.
- Nếu giáo lý của Ngài có Niết bàn và Ngài đã chứng Niết bàn. Vậy tất cả đệ tử Ngài có được Niết bàn hết chăng?
- Đệ tử của ta, có người chứng được Niết bàn, có người không chứng được Niết bàn.
- Giáo lý ngài có Niết bàn thì tại sao Ngài dạy đệ tử có người chứng, có người không chứng?
- Ở đây gần thành Vương Xá, vậy ông có biết thành Vương Xá không?
- Dạ biết
- Ông có rành đường đến thành Vương Xá không?
- Dạ rành.
- Nếu có người hỏi đường để đến thành Vương Xá. Ông chỉ dẫn tường tận mà người đó không đi tới là lỗi tại ai?
- Dĩ nhiên là lỗi tại người đi. Nếu người đó đi theo đúng như lời tôi chỉ thì chắc chắn sẽ tới.
Bây giờ Đức Phật mới kết luận rằng:
- Ta cũng vậy, giáo lý của ta có Niết bàn và ta cũng đã đạt Niết bàn. Nhưng ta dạy đệ tử nếu ai y theo lời ta dạy mà tu thì đạt tới Niết bàn, bằng không thì không đạt được. Vậy không có Niết bàn đâu phải là lỗi tại ta. 


CHÚ TIỂU VÀ VỊ LẠT MA 

Có một chú tiểu rất thông minh đến gặp một vị Lạt ma và nói rằng: 
- Trời ơi Ngài nổi tiếng lắm, đi đâu con cũng nghe danh ngài.
Được khen vị Lạt ma liền hướng vô bên trong và kêu: 
- Này thị giả, hãy mang kẹo ra cho chú tiểu.
Chú tiểu nói tiếp:
- Ngài làm như vậy, sao mà giống như Phật dạy quá! 
Vị Lạt ma lại gọi: 
- Thị giả, mang thức ăn ngon ra cho chú tiểu. 
Chú tiểu khôn ngoan đó lại nói tiếp: 
- Chính Ngài là Đức Phật tại thế.
Vị Lạt ma lại gọi vào trong:
- Hãy mang thêm 3 đồng tiền vàng cho chú. 
Chú tiểu nghĩ rằng như vậy là đủ rồi và đứng chờ nhận quà.
Chờ mãi mà không thấy ai ra,chú hỏi vị Lạt ma sao thị giả của Ngài chưa đem kẹo, thức ăn và vàng ra. 
Vị Lạt ma nói: 
- Tại sao ta phải cho con kẹo, thức ăn, vàng thật chớ? Con chỉ cho ta những lời nói trống rỗng. Ta cũng cho lại con những lời nói trống rỗng. 


NƯỚC MẮT THIỀN SƯ 

Một hôm, thiền sư Không Dã ra ngoài hoằng pháp, đi qua con đường núi đột nhiên gặp đám giặc cướp, tay cầm gươm đao đòi tiền mãi lộ. 
Thiền sư thấy chúng bất giác rơi lệ. Bọn cướp thấy sư khóc, cười lớn :
- Đồ nhát gan !
Thiền sư Không Dã nói :
- Ta đã vượt qua sanh tử, không phải sợ các ông mà khóc. Ta chỉ thương các ông trẻ tuổi sức mạnh mà không làm việc xã hội, không phục vụ mọi người, hàng ngày ở đây phá nhà cướp của, ta nghĩ đến tội lỗi của các ông sẽ bị pháp luật truy nã, xã hội không dung tha, tương lai còn đọa vào địa ngục chịu khổ tam đồ. Vì thấy sự nguy cấp của các ông mà ta khóc. 


PHẬT PHÁP KHÔNG HAI THỨ 

Một hôm, Hàn Dũ đến tham vấn thiền sư Đại Điên Bảo Thông, hỏi: 
- Thiền sư bao nhiêu tuổi ?
Bảo Thông giơ xâu chuỗi cầm trong tay, hỏi :
- Hiểu chăng ?
Hàn Dũ đáp :
- Không.
Bảo Thông bổ sung một câu :
- Ngày đêm trăm lẻ tám.
Hàn Dũ không hiểu ý thế nào, đành im lặng ra về.
Hôm sau Hàn Dũ đến hỏi Thủ tọa: 
- Hôm qua thiền sư Bảo Thông nói như thế, ý thế nào ?
Thủ tọa nghe xong, liền vỗ răng ba cái. Hàn Dũ càng mờ mịt không hiểu.
Hàn Dũ đến pháp đường gặp thiền sư Bảo Thông hỏi lại :
- Thiền sư bao nhiêu tuổi ?
Bảo Thông cũng vỗ răng ba cái.
Hàn Dũ bỗng dưng liễu ngộ, nói :
- Té ra Phật pháp không hai thứ.
Bảo Thông hỏi :
- Vì sao ? 
- Vừa rồi Thủ tọa cũng hành động như thiền sư.
- Đạo Phật, đạo Nho không hai thứ, ta và ông cũng là một thôi. 


LÀM SAO LÃNH HỘI ĐƯỢC 

Thiền sư Vân Môn sau khi khai ngộ nơi Mục Châu Trần Tôn Túc, bèn ra ngoài du phương. Tại Giang Châu, gặp viên quan Thượng thư Trần Tháo, Trần Thượng thư cũng là học giả nhà thiền, vừa gặp Vân Môn ông liền thử nghiệm hỏi : 
- Thế nào là việc hành cước của thiền tăng ?
Vân Môn không đáp, hỏi ngược lại :
- Ông hỏi câu này mấy người rồi ?
- Tôi hỏi mấy người mặc kệ, bây giờ xin hỏi ngài ?
- Thế nào là tam tạng kinh điển một đời Như Lai ?
- Quyển vàng trục đỏ.
- Đó là giấy mực văn tự, không phải chân nghĩa Phật pháp. Mời ông nói lại, thế nào là giáo nghĩa ?
- Miệng muốn nói mà không có lời, tâm muốn duyên mà không có nghĩ.
- Miệng muốn nói mà không có lời, đó là đối có lời ; tâm muốn duyên mà không có nghĩ, đó là đối vọng tưởng. Mời ông nói lại, thế nào là giáo nghĩa ?
Thượng thư không đáp được, Vân Môn lại hỏi :
- Thượng thư thường đọc kinh Pháp Hoa phải không ?
- Phải
- Trong kinh nói : “Tất cả nghề nghiệp đều không trái thật tướng ?”. Xin hỏi trời phi phi tưởng có mấy người thoái vị ?
Thượng thư mờ mịt không biết đáp thế nào.
Vân Môn nói :
- Tôi xem qua mười kinh năm luận, sau đó bỏ hết vào tùng lâm tu hành, trải qua mười năm, hai mươi năm còn chưa được đại ngộ, Thượng thư chỉ xem mấy quyển làm sao lãnh hội được ?



CHÁNH ĐIỆN KHÔNG CÓ PHẬT 

Thiền sư Vô Nghiệp ở Phần Châu - Thiểm Tây, ban đầu tham vấn thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, nhân tướng mạo to lớn, âm thanh như hồng chung, Mã Tổ vừa thấy liền cười sư rằng :
- Chánh điện to lớn mà không có Phật.
Vô Nghiệp liền làm lễ, cung kính thưa :
- Văn học ba thừa con tin được chút ít, nhưng nhà thiền nói tức tâm tức Phật con không hiểu nổi.
Mã Tổ thấy ý sư chân thành bèn khai thị :
- Chính cái không hiểu đó tức là tâm chứ không có gì khác ; khi chưa hiểu tức là mê, hiểu tức là ngộ ; mê tức là chúng sanh, ngộ tức là Phật.
Vô Nghiệp hỏi :
- Ngoài tâm, Phật, chúng sanh ra còn có Phật pháp chăng ?
Mã Tổ đáp :
- Tâm Phật, chúng sanh chỉ là một, Phật pháp cũng như thế, như bàn tay nắm tay.
Vô Nghiệp hỏi :
- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
Mã Tổ đáp :
- Hiện giờ có ý Tổ sư không ? Hãy đi, khi khác sẽ đến.
Vô Nghiệp từ giã ra đi, Mã Tổ theo sau gọi :
- Đại đức !
Vô Nghiệp xoay đầu lại. Mã Tổ bảo :
- Là cái gì ?
Ngay đó, Vô Nghiệp quỳ xuống lễ bái, khóc :
- Con tưởng Phật pháp xa xôi, bây giờ mới biết thật tướng pháp thân ở ngay chính mình.
Mã Tổ nói :
- Kẻ ngu này ngộ rồi. 


TÂM PHẬT LÀ GÌ 

Có lần, thiền sư Huệ Trung hỏi Tử Lân Cung Phụng : 
- Cung Phụng học Phật pháp nhiều năm, Phật nghĩa là gì ?
Tử Lân không cần suy nghĩ đáp :
- Phật nghĩa là giác ngộ.
Thiền sư Huệ Trung tiến một bước, hỏi :
- Phật có mê không ?
Tử Lân không cho là đúng, nhẫn nại hỏi ngược lại thiền sư Huệ Trung :
- Đã thành Phật, sao còn mê ?
Thiền sư Huệ Trung hỏi ngược lại :
- Nếu không còn mê, giác ngộ làm gì ? 


LẬT THUYỀN SANH TỬ 

Có vị học tăng đến tham bái thiền sư Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi : 
- Từ đâu đến ?
Học tăng đáp :
- Từ thiền sư Phú Thuyền (Lật Thuyền) đến.
Tuyết Phong cố ý hỏi :
- Biển sanh tử không có bờ qua, vì sao ông muốn lật thuyền ?
Học tăng không hiểu ý Tuyết Phong liền từ giã ra về. Học tăng kể lại cho thiền sư Phú Thuyền nghe. Thiền sư Phú Thuyền nói :
- Ông thật ngu ngốc, tại sao không nói rằng con đã vượt biển khổ sanh tử nên mới lật thuyền.
Học tăng bèn trở lại Tuyết Phong. Tuyết Phong lại hỏi : 
- Đã lật thuyền, còn đến đây làm gì ?
Học tăng thưa :
- Con đã vượt khỏi biển sinh tử nên mới lật thuyền.
Tuyết Phong nghe xong, nói :
- Câu này chẳng phải của ông, do thầy ông dạy, ta gởi hai mươi gậy cho lão sư Phú Thuyền và nói rằng hãy giữ hai mươi gậy này mà ăn, còn ta với ông không quan hệ gì cả. 


THIỀN KHÔNG PHẢI VẤN ĐÁP 

Có một thiền sư viết hai câu cho đệ tử tham cứu. Hai câu ấy như sau:
- Hai người dầm mưa đi, vì sao một người không ướt ?
Các đệ tử lần lượt bàn luận.
Vị thứ nhất nói : “Hai người đi trong mưa, có một người không ướt là vì người ấy mặc áo mưa”.
Vị thứ hai nói : “Người không ướt có gì lạ đâu, vì trận mưa cục bộ – một bên mưa, một bên không mưa”.
Vị thứ ba đắc ý nói : “Huynh sai rồi, trận mưa dầm dề làm gì có chuyện cục bộ ? Sở dĩ người không ướt là vì người ấy vào nhà đụt mưa”.
Mỗi vị một câu, dường như vị nào cũng có lý, nhưng chưa đúng ý thiền sư.
Sau cùng, thiền sư nói :
- Các ông chấp vào câu “Một người không ướt”, mà tranh luận mãi không thôi. Bởi tranh luận cho nên cách xa chân lý. Kỳ thật, người không ướt không ngoài hai người đang đi trong mưa. 


CUỘC SỐNG TÙY DUYÊN 

Ngày tam phục – mùa mà cái nóng oi bức nhất trong năm, cả vườn cỏ của thiền viện đã trở thành một thảm cỏ khô vàng.
Chú tiểu nói.: “Phát dọn cho sạch sẽ đám cỏ này đi, thế này thì thật là khó coi quá!” 
Sư phụ vẫy vẫy tay: “Đợi trời mát đã" "Tùy thời”. 
Trung thu, Sư phụ lại mua về một bao hạt cỏ giống, gọi chú tiểu đem bao hạt giống này đi gieo. Gió mùa thu trỗi lên và cuốn đi những hạt giống vừa gieo.
Chú tiểu kêu la: “Không xong rồi! Các hạt giống bị gió thổi bay đi cả rồi”
Sư phụ nói:“Thôi đi con, không sao đâu, hạt giống vẫn còn rất nhiều, gió cuốn đi cũng không mọc được.” “Tùy tính”. 
Sau khi cơn gió đã lấy đi những hạt giống, tiếp theo lại có mấy chú chim đáp xuống mổ ăn.
Chú tiểu vừa nhảy vừa la: “Chết rồi! Hạt cỏ giống lại bị chim ăn hết rồi!”
Sư phụ nói: “Không sao! Hạt giống còn nhiều, ăn không hết đâu!” “Tùy ngộ”. 
Nữa đêm lại bị một trận mưa dữ dội. Vừa mờ sáng chú tiểu vội vã chạy vào phòng thầy: “Sư phụ, lần này thì xong thật rồi! Những hạt giống bị mưa cuốn trôi hết rồi” 
Sư phụ nói: “Trôi đến đâu, thì nó sẽ mọc ở đó.” “Tùy duyên”.
Hơn nữa tháng sau, một vùng đất trơ trụi lúc trước giờ lại mọc lên những mầm cỏ non xanh biên biết, có một số ngốc ngách không hề gieo trồng nhưng vẫn mọc lên xanh rờn. Chú tiểu vỗ tay và vô cùng vui sướng. 
Sư phụ gật gật đầu: “Tùy hỷ”. 


MỘT ĐỐNG CỦI 

Thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu trụ ở Hồ Nam, có lần hỏi một vị học tăng mới đến tham học :
- Ông từ đâu đến ?
Học tăng thưa :
- Giang Tây.
- Có thấy Mã Đại Sư chăng ?
- Thấy.
Hy Thiên dùng tay chỉ một đống củi hỏi :
- Thiền sư Mã Tổ giống đống củi không ?
Học tăng không đáp được.
Vì ở chỗ thiền sư Thạch Đầu không khế hợp, nên trở lại Giang Tây tham kiến thiền sư Mã Tổ, và kể lại việc ấy cho Mã Tổ nghe. Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất nghe xong, ung dung cười mỉm, hỏi học tăng:
- Ông xem đống củi kia nặng bao nhiêu ?
- Con chưa lường kỹ .
- Ông có sức quá lớn.
- Vì sao ?
- Ông từ Nam Nhạc vác một đống củi đến đây, há chẳng có sức sao? 


NGHE 

Có lần tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm luận đạo với thiền sư Vô Trụ ở sau tự viện, có con quạ đậu trên cây trước sân kêu.
Thiền sư Vô Trụ hỏi tướng quốc : “Có nghe tiếng quạ kêu không ?”. Tướng quốc đáp : “Nghe”.
Bỗng dưng con quạ bay đi, thiền sư Vô Trụ lại hỏi tướng quốc : “Có nghe tiếng quạ kêu không ?”. Tướng quốc đáp : “Không”. 
Thiền sư Vô Trụ nói :
- Hiện bây giờ ta vẫn nghe tiếng quạ kêu.
Tướng quốc nghe xong, kinh ngạc, hỏi :
- Quạ đã bay đi rồi, không còn tiếng kêu, vì sao thầy nói vẫn nghe tiếng quạ kêu ?
Thiền sư Vô trụ giải thích :
- Có nghe không nghe, không quan hệ gì tánh nghe, xưa nay không sanh, đâu từng có diệt ? Khi có tiếng, thì thanh trần tự sanh, khi không tiếng thì thanh trần tự diệt nhưng tánh nghe này không theo tiếng mà sanh, không theo tiếng mà diệt. Ngộ được tánh nghe này thì không bị thanh trần chuyển. Nên biết rằng tiếng là vô thường, nghe không có sanh diệt, cho nên quạ có đến đi còn tánh nghe của chúng ta không có đến đi. 


KHÓA TRÌNH CẦN PHẢI TU 

Học tăng Nguyên Trì tham học trong pháp hội thiền sư Vô Đức, tuy siêng năng dụng công mà rốt cuộc đối với thiền pháp không cách gì thể ngộ. Cho nên, có lần giờ tham vấn buổi chiều, Nguyên Trì xin thiền sư Vô Đức đặc biệt chỉ dạy : 
- Đệ tử vào tùng lâm đã nhiều năm, mà vẫn mờ mịt không biết gì cả, luống thọ sự cúng dường của tín thí, ngày qua ngày mà không ngộ, xin thầy từ bi chỉ dạy, mỗi ngày ngoài việc tu trì ra, còn có khóa trình nào cần phải tu thêm không ?
Thiền sư Vô Đức đáp :
- Điều tốt nhất ông hãy trông coi hai con kên kên, hai con nai, hai con nhạn và cột một con trùng trong miệng, đồng thời chiến đấu liên tục với một con gấu và chăm sóc một bệnh nhân. Nếu làm được như thế và tận tình trong nhiệm vụ của mình, ta tin rằng đối với ông có sự trợ giúp rất tốt.
Nguyên Trì không hiểu, thưa :
- Bạch thầy ! Con chỉ có một mình đến đây tham học, bên thân con hoàn toàn không mang theo con vật nào cả, làm sao trông coi ? Vả lại, con nghĩ rằng những động vật ấy đâu có dính dáng gì với khóa trình cần phải tu.
Thiền sư Vô Đức cười, nói :
- Ta nói hai con kên kên, đó là ông thường phải cảnh giác hai con mắt mình – phi lễ chớ nhìn; hai con nai, là ông cần phải giữ gìn hai chân mình, đừng để nó chạy theo đường tội ác – phi lễ chớ làm; hai con nhạn, là hai tay ông phải thường làm công tác, tận tình trong trách nhiệm của mình – phi lễ chớ động; một con trùng là cái lưỡi của ông phải cột chặt lại – phi lễ chớ nói; một con gấu, là tâm ông, ông phải khắc chế cá nhân riêng tư của mình – phi lễ chớ tưởng; người bệnh là chỉ cho thân ông, hy vọng ông đừng để nó vào tội ác. Ta mong rằng trên đường tu đạo, những khóa trình cần phải tu đó không thể thiếu được. 


TÂM YẾU CỦA THIỄN 

Đại thi nhân Bạch Cư Dị có lần hỏi thiền sư Duy Khoan : 
- Thân khẩu ý làm sao tu hành mỗi cái?
Duy Khoan đáp:
- Vô thượng Bồ-đề mặc nơi thân là luật, nói nơi miệng là pháp, hành nơi tâm là thiền. Ứng dụng thì có ba, nhưng chỉ là một thể. Như sông Hoài sông Hán, tuy tên khác nhau mà tánh nước chỉ là một. Luật tức là pháp, pháp không lìa thiền, hợp thân khẩu ý thành một mà tu, thân khẩu ý đều do tâm đặt tên, cớ sao ở trong đó khởi tâm phân biệt?
- Nếu không phân biệt, làm sao tu tâm?
- Tâm vốn không thương tổn, vì sao phải tu? Nên biết rằng không luận là dơ hay sạch, tất cả đều không được khởi niệm.
- Dơ, có thể lau chùi, không được khởi niệm; sạch, không khởi niệm được chăng?
- Như tròng mắt không thể dính vật, mạt vàng tuy quý, rơi vào mắt cũng xốn như thường; mây đen che bầu trời, mây trắng cũng như thế.
- Không tu, không nghĩ thì đâu khác phàm phu.
- Phàm phu ở mãi trong vô minh, Nhị thừa thường chấp trước, lìa hai bệnh vô minh và chấp trước này, đó là chân tu. Người chân tu không được tinh tấn cũng không quên lãng. Tinh tấn kẹt vào chấp trước, quên lãng rơi vào vô minh. Đó là tâm yếu vậy. 


ĐÁNH XE HAY ĐÁNH TRÂU 

Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng lúc trụ trì chùa Bát Nhã, phát hiện vào buổi chiều có một thanh niên ngồi thiền tại Đại Hùng bảo điện, xem dáng vẻ rất có huệ căn, do đó quan tâm hỏi : 
- Ông ngồi đây làm gì ?
Thanh niên không vui khi có người quấy nhiễu, miễn cưỡng đáp :
- Ngồi thiền !
Thiền sư Hoài Nhượng hỏi lại :
- Vì sao phải ngồi thiền ?
Thanh niên rất bực bội, nhưng vẫn đáp :
- Thành Phật !
Hoài Nhượng lại hỏi :
- Ngồi thiền làm sao thành Phật được ?
Thanh niên không đáp nữa, dường như chán Hòa thượng này quá lải nhải.
Bất đắc dĩ, thiền sư Hoài Nhượng đem một cục gạch đến bên cạnh thanh niên mài mỗi ngày. Qua mấy ngày, thanh niên lấy làm lạ hỏi :
- Hàng ngày thầy ở đây làm gì ?
- Mài gạch !
- Mài gạch để làm gì ?
- Làm gương.
- Gạch làm sao thành gương được ?
- Nếu gạch không thành gương được, vậy ông ngồi thiền làm sao thành Phật được ?
Thanh niên kinh ngạc. Một câu nói bình thường như thế, khiến cho kiêu khí của ông ta tiêu tan, lập tức đứng dậy cung kính đảnh lễ, hỏi :
- Như thế làm sao mới đúng ?
Thiền sư Hoài Nhượng hiền hòa đáp :
- Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh trâu hay đánh xe ?
Thanh niên nghe xong, quỳ xuống lễ bái, thưa :
- Phải dụng tâm thế nào mới đạt được cảnh giới vô tướng Tam-muội ?
Thiền sư Hoài Nhượng đáp :
- Học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta giảng giải pháp yếu cho ông như mưa nước cam lồ, chỉ đợi nhân duyên hòa hợp liền thấy được đạo.
Ngay lời nói này thanh niên đại ngộ, ông chính là thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, tông sư một đời trong thiền môn. 


THONG DONG NHẬP THIỀN 

Có một vị đệ tử trong chùa đêm ngày nỗ lực tham thiền, liền đến trước Sư phụ thỉnh giáo làm thế nào mới ngộ thiền. Sư phụ giao cho đệ tử một cái hồ lô và một nắm muối thô, nói: “Con hãy múc nước đầy vào, sau đó đem muối bỏ vào để nó mau tan ra”.
Đệ tử làm theo, một lúc lâu, ông ta đổ mồ hôi ôm hồ lô chạy về nói: 
“Nước quá đầy, lắc không được, miệng hồ lô quá nhỏ, không có cách gì thò vào để quậy cho muối mau tan?”.
Sư phụ nói:
“Đổ một ít nước thì lắc được”. 
Thế là đệ tử đổ đi một ít nước, chỉ cần lắc một lát là muối liền tan hết.
Sư phụ nói:
“Dụng công là tốt, nhưng tham thiền cũng phải thong dong. Nếu không thì cũng giống như hồ lô đựng đầy nước không thể lắc hay quậy thì muối chẳng thể hòa tan” 


ĐỌC KINH GIỐNG NHƯ KHÓC 

Thiền sư Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch lúc còn làm tiểu Hòa thượng, từng ở nơi Hòa thượng Nhũ Nguyên Thiều Châu tu hành. Ông có cái tật là mỗi lần đọc kinh thì âm giọng thật to, tuy ở khoảng cách rất xa nhưng đều có thể nghe rõ ràng.
Một hôm Ngưỡng Sơn lại to tiếng đọc kinh, bị Hòa thượng Nhũ Nguyên từ xa nghe được, Hòa thượng Nhũ Nguyên liền đi đến để trách ông: 
“Thằng Hòa thượng con này đọc kinh gì mà giống như khóc vậy?”.
Ngưỡng Sơn lên mặt đáp:
“Con đọc kinh giống khóc, còn Hòa thượng thì thế nào?”.
Hòa thượng Nhũ Nguyên quay đầu, mắt nhìn thẳng Sa di.
Ngưỡng Sơn lớn tiếng hỏi trở lại: “Nếu như thế thì có khác với khóc không? Nói cười giận mắng, đi đứng ngồi nằm, tất cả không phải là thiền sao?”.
Hòa thượng đành thôi. 


KHÔNG SỢ QUỈ 

Nghe nói Thiền sư Huệ Khôi có lần ngồi thiền trong động, thì có một con quỉ không đầu đi đến. Nếu như người thường thấy thì nhất định sẽ sợ hồn quỉ nhập vào thân, nhưng Thiền sư Huệ Khôi vẫn không thay đổi sắc mặt, nói với quỉ không đầu rằng:
“Ngươi vốn là quỉ không đầu, cho nên không biết nhức đầu, thật là cảm thấy dễ chịu”
Quỉ không đầu sau khi nghe xong liền biến mất.
Lại có lần trong động của Thiền sư Huệ Khôi xuất hiện một con quỉ không có mình mà lại có tay chân, Thiền sư Huệ Khôi nói với quỉ không mình rằng:
“Ngươi không có mình cho nên không biết cái đau về ngũ tạng lục phủ, đây thật là hạnh phúc”. 
Quỉ không đầu khi nghe xong đột nhiên biến mất.
Lại có con quỉ không miệng xuất hiện tới trước mặt, Thiền sư Huệ Khôi nói: 
“Không có miệng thì tốt lắm, tránh được tội nghiệp ác khẩu hai lưỡi”.
Quỉ không có mắt hiện ở trước mặt, Thiền sư Huệ Khôi nói:
“Ngươi không có mắt thì rất tốt, tránh được tâm phiền não khi nhìn”.
Quỉ không tay xuất hiện, Thiền sư Huệ Khôi liền nói: 
“Ngươi không có tay thì rất tốt, tránh được tội trộm cắp đánh người…”
Ít lâu sau những hồn quỉ không còn xuất hiện đến trước Thiền sư Huệ Khôi nữa. 


NGƯƠI TỪ ĐÂU ĐẾN? 

Thiền sư Huệ Năng khi mới tham kiến ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”.
Huệ Năng đáp: “Con từ Lãnh Nam đến”.
Hoằng Nhẫn nói: “Lãnh Nam là nơi mọi rợ Cát Lão, hễ là rợ Cát Lão thì không có Phật tánh”.
Huệ Năng trả lời: “Bạch Hòa thượng! Người thì có phân chia Nam Bắc chứ Phật tánh thì không có phân chia Nam Bắc”.
Đại sư Thần Hội nương gần Lục tổ Huệ Năng, Lục tổ hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”.
Thần Hội đáp: “Con không từ đâu đến”.
Thiền sư Tuệ Trung ở Nam Dương đến tham kiến Lục tổ, Lục tổ hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”
Thiền sư Tuệ Trung đáp: “Con ở chỗ gần đây đến”. 


BAY CHẲNG KHỎI HƯ KHÔNG 

Học tăng Đạo Tụ hạ thủ công phu tu trì nhưng không giác ngộ bèn tỏ ra thất vọng, đến Sư phụ là Thiền sư Quảng Ngữ xin từ giã ra đi.
Thiền sư Quảng Ngữ kinh ngạc hỏi:
 “Làm gì không có sự giác ngộ mà liền bỏ đi ư? Bỏ nơi đây mà đến chỗ khác thì được giác ngộ ?”. 
Đạo Tụ thành khẩn nói:
“Con mỗi ngày ngoài việc ăn cơm ngủ nghỉ ra thì đều dụng công tu trì, ngoài việc tu thiền ra thì đều không có chú tâm đến việc khác, vậy mà thấy đạo hữu cùng tham thiền với con thì mỗi ngày đều có tiến bộ. Thiết nghĩ, con là ông Tăng tu hành khổ hạnh lẽ ra phải tiến bộ nhiều hơn”. 
Thiền sư Quảng Ngữ nói: 
“Ngộ là một sự khơi bày bản tánh, cội nguồn của sự giác ngộ thì không có phương pháp nào hình dung được và cũng không có phương pháp nào dạy cho người khác. Người ta có cảnh giới của người ta, con tu thiền đạo của con, cần gì phải nói bàn cho lộn xộn ư?”. 
Đạo Tụ cảm than: 
“Chao ôi! Con so với các huynh đệ cũng giống như chim sẻ nhỏ so với chim đại bàng!”.
Thiền sư Quảng Ngữ giả bộ không hiểu: 
“Cái gì lớn? Cái gì nhỏ?”.
Đạo Tụ nói:
“Chim đại bàng cất cánh là đã bay xa hơn trăm dặm, trong khi đó chim sẻ bé nhỏ bay không quá vài trượng”.
Thiền sư Quảng Ngữ hỏi : 
“Chim đại bàng tuy cất cánh là có thể bay xa hơn trăm dặm, nhưng có thể bay ra khỏi sanh tử không?”. 


PHÒNG TRỐNG 

Tỳ kheo Na Tiên nói năng linh hoạt khéo léo, khiến cho vua Di Lan Đà rất là tôn kính. Một hôm vua Di Lan Đà đến trước mặt Tỳ kheo Na Tiên nói: “Con mắt, lỗ tai, lỗ mũi và cái lưỡi đều là của Thầy chăng?”.
Tỳ kheo Na Tiên cười đáp: “Đều không phải”.
Vua Di Lan Đà lại hỏi: “Thế thì chỉ có thân thể thôi sao, hay là ý mới thật là của Thầy?”.
Tỳ kheo Na Tiên cười đáp: “Đều không phải”.
Vua Di Lan Đà lại không hiểu: “Thế thì Thầy ở đâu?”.
Tỳ kheo Na Tiên mỉm cười hỏi lại: “Cửa sổ, cửa lớn, gạch, ngói, giường, ghế, cây cột đều là cái phòng chăng?”.
Vua Di Lan Đà im lặng giây lâu đáp: “Đều không phải”.
Tỳ kheo Na Tiên liền hỏi: “Thế thì cái phòng ở chỗ nào?”. 


KHÔNG ĐỂ THỜI GIAN TRÔI QUA VÔ ÍCH 

Thiền sư Ngưỡng Sơn sau một thời gian vân du trở về, liền đến thăm Thầy của ông là Thiền sư Quy Sơn.
Thiền sư Quy Sơn hỏi:
- Một thời gian không gặp, ông đã làm được những gì?
Ngưỡng Sơn trả lời:
- Con cày được một mảnh đất và gieo xuống đó được một hạt giống tốt
Ngài Quy Sơn khen:
- Nhìn lại việc này thì trước đây ông chưa từng để thời gian trôi qua một cách vô ích
Ngưỡng Sơn cũng hỏi lại thầy của mình như thế:
- Vậy thầy làm được những gì?
Ngài Quy Sơn nói không cần suy nghĩ:
- Ta ban ngày ăn cơm, buổi tối đi ngủ
Ngưỡng Sơn ca ngợi Thầy mình:
- Vậy Thầy đây cũng chưa từng để thời gian trôi qua vô ích 


BẢO CHÂU VÔ THUỢNG 

Một hôm, Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni cầm một trái châu tùy theo cảnh mà biến màu đưa cho các Thiên Vương ở năm phương xem và Ngài hỏi:
“Trái châu này có màu gì?”
Thiên Vương ở năm phương đều trả lời không giống nhau, có vị thì nói màu xanh, có vị nói màu vàng, có vị thì nói màu cam, có vị nói màu hồng, lại có vị nói màu trắng. Thế Tôn đem trái châu cất vào trong tay áo, rồi Ngài giơ tay ra hỏi: 
“Trái châu này màu gì?”
Các Thiên Vương đáp:
“Thế Tôn! Ngay cả trái châu trong tay Ngài còn không có thì làm sao mà biết màu gì?’.
Thế Tôn nói: 
“Các ngươi thật là điên đảo, ta đem trái châu thế tục cho các ngươi xem, vậy mà các ngươi đều nói màu xanh, vàng, cam, hồng không giống nhau. Bây giờ ta đem trái châu báu thật vô thượng cho các ngươi xem nhưng các ngươi nói không thấy”. 


SỐNG AN VUI 

Có ba vị tín đồ vẻ mặt đầy bồn rầu, đi thỉnh giáo Thiền sư Vô Đức làm thế nào mới khiến cho mình có được đời sống an vui.Thiền sư Vô Đức liền hỏi họ cần được những gì mới an vui.
Tín đồ Giáp nói: “Có tiền là có an vui”.
Tín đồ Ất nói: “Có tình yêu chơn chánh là có an vui”.
Tín đồ Bính thì cho rằng: “Có danh dự thì mới có an vui”.
Thiền sư nghe xong liền lắc đầu khuyên răn họ: “Các vị có hoài bảo như thế đương nhiên là không được chơn chánh an vui. Sự thật mà nói, ngay cả các ngươi sau khi có tiền, có tình yêu, có danh dự thì phiền não bao vây quấy nhiễu làm mê mờ rồi”.
Ba vị tín đồ không biết nói gì: “Thế thì chúng ta phải làm sao?”.
Thiền sư Vô Đức: “Biện pháp thì có, chỉ cần các vị trước phải thay đổi quan niệm. Vàng bạc bố thí giúp đỡ người mới có an vui, tình yêu cần hiến tặng mới có an vui, danh dự phải dùng để phục vụ mọi người, các vị mới thật sự được an vui”. 


TÌM MỘT CHỖ NGỒI 

Đại học sĩ Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn thường cùng nhau tham thiền luận đạo. Một hôm, Thiền sư đăng đàn thuyết pháp, khi Tô Đông Pha đến thì đã hết chỗ ngồi. Thiền sư từ xa trông thấy Tô Đông Pha đến, bỗng nói lớn:
- Mọi người đã ngồi hết chỗ, ở đây không còn chỗ cho ông ngồi đâu.
Tô Đông Pha nói:
- Nếu không còn chỗ ngồi, vậy cho tôi mượn thân tứ đại ngũ uẩn của thiền sư để làm chỗ ngồi.
- Ông quả quyết muốn lấy thân ta làm chỗ ngồi, nếu ngồi không được thì phải tháo ngọc đáy ngay thắc lưng để lại bổn tự. 
Tô Đông Pha đồng ý, Thiền sư nói:
- Bốn đại của ta vốn không, năm uẩn chẳng có, vậy học sĩ ông muốn ngồi chỗ nào? 
Tô Đông Pha tịch lời đành phải mở ngọc đái để lại rồi ra về. 


HẠT CẢI CHỨA NÚI TU DI 

Thứ sử Lý Bột ở Giang Tô sống vào triều nhà Đường, hỏi Thiền sư Trí Thường rằng:
“Trong kinh Phật có nói, núi Tu di chứa hạt cải, tôi không hoài nghi, còn chuyện hạt cải chứa cả núi Tu di, đâu chẳng phải là lời bàn hư dối ư?”.
Thiền sư Trí Thường nghe nói xong, Ngài cười hỏi:
“Mọi người đều đồn rằng, ông đọc sách hơn vạn quyển, việc này có đúng thế không?”
Lý Bột gật đầu nói:
“Thật không sai!”.
Thiền sư làm ra vẻ không hiểu và cật vấn rằng:
“Xem ra bộ óc của sứ quân lớn tương đương với cái sọ dừa, thế thì một vạn quyển sách nhét chỗ nào cho hết?”. 


KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN 

Có người hỏi Thiền sư Hưng Thiện Duy Khoan: “Con chó có Phật tánh không?”
Thiền sư đáp: “Có”
Người này lại hỏi: “Thế hòa thượng cũng có phải không?”.
Thiền sư đáp: “Ta không có”.
Người chất vấn nghi rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì sao chỉ riêng Hòa thượng không có?”. 
Thiền sư nói: “Ta không phải là chúng sanh”.
Người chất vấn tiếp tục hỏi: “Hòa thượng đã không phải là chúng sanh thì Ngài là Phật ư?”.
Thiền sư nói: “Ta cũng  không phải là Phật”.
Người chất vấn hỏi: “Thế thì cuối cùng Ngài là gì?”.
Thiền sư rất bình tĩnh nói: “Cũng không là gì cả”.
Người chất vấn hỏi: “Thế thì có thể xem thấy, có thể nghĩ bàn không?”.
Thiền sư khai thị: “Suy tư thì không thể đạt được, nghĩ bàn thì không nhận biết, cho nên gọi là không thể nghĩ bàn”. 


BÀN TAY VÔ SỰ 

Tướng quốc Bùi Hưu sống vào thời Đường. Từ khi theo Thiền sư Hoàng Bá, ông càng kính phục Thiền sư. Có lần ông đem việc tâm đắc khi tham thiền dùng văn tự để biên thành sách. Sau khi thành sách xong, ông rất cung kính đem trình lên Thiền sư Hoàng Bá mong rằng Thiền sư xem qua nội dung góp ý.
Thiền sư Hoàng Bá sau khi tiếp nhận xong, liền quăng trên bàn không nói năng gì, một hồi lâu lại hỏi: “Hiểu không?”.
Tể tướng Bùi Hưu thành thật đáp: “Không hiểu”.
Thiền sư Hoàng Bá liền khai thị: “Thiền là truyền ngoài giáo điển, không lập văn tự. Ông đem Phật pháp dùng văn tự để nêu bày thì làm mất đi chơn nghĩa của Phật pháp, cũng như mất đi tông phong của thiền môn, cho nên tôi mới không thèm xem”. 


TRÁI MAI SỐNG 

Thiền sư Đam Nguyên Sơn Ứng ở Kiết Châu vốn là vị Thị giả của Quốc sư Tuệ Trung ở Nam Dương. Có lần Thiền sư xách giỏ tre về đến phương trượng, Quốc sư hỏi: “Trong cái giỏ tre đựng vật gì?”.
Thiền sư đáp: “Là trái mai còn sống”.
Quốc sư hỏi: “Đem về làm gì?”.
Thiền sư nói: “Cúng dường chư Phật Bồ tát”.
Quốc sư lắc đầu nói: “Màu xanh rõ ràng hãy còn, làm sao có thể xách về cúng dường?”.
Thiền sư đáp: “Nói là cúng dường, nhưng thật ra là để bày tỏ lòng thành”.
Quốc sư nói: “Chư Phật, Bồ tát không nhận cúng dường”.
Thiền sư đáp: “Con thì chỉ biết làm như vậy, còn Hòa thượng thì sao?
Quốc sư nói: “Ta không cúng dường”.
Thiền sư hỏi ngược lại: “Sao Hòa thượng không cúng dường?”.
Quốc sư nói: “Ta không có trái”. 


TOÀN THÂN ĐỀU LÀ CON MẮT 

Có lần Thiền sư Đạo Ngô hỏi Vân Nham: “Quán Thế Âm Bồ tát có đến 1000 tay, 1000 mắt. Xin hỏi con mắt nào là mắt chánh?”
Vân Nham: “Giống như ngươi tối đi ngủ, lúc cái gối bị rớt xuống giường, ngươi không mở mắt ra, rồi thòng tay xuống đấy quơ một cái là tìm được. Lại có thể tiếp tục ngủ. Xin hỏi, ngươi dùng con mắt nào để tìm vậy?”.
Thiền sư Đạo Ngô sau khi nghe xong nói: “Ồ! Sư huynh tôi hiểu rồi”.
Vân Nham hỏi : “Ngươi hiểu gì?” 
Đạo Ngô đáp : “Khắp thân đều là con mắt”.
Thiền sư Vân Nham cười nói: “Ngươi chỉ hiểu được tám phần”.
Đạo Ngô nghi ngờ hỏi: “Thế thì phải nói thế nào?”. 
Thiền sư Vân Nham có chỗ nắm bắt: “Toàn thân đều là mắt” 


ĐƯỜNG ĐÁ TRƠN TRỢT 

Thiền sư Ẩn Phong từ biệt Mã Tổ Đạo Nhất ra đi, Ma Tổ nói: “Đi đến nơi nào?”.
Ẩn Phong đáp: “Đến Nam Nhạc Thạch Đầu Hi Thiên Thiền sư”.
Mã Tổ dặn dò rằng: “Đường đá trơn lắm nhe!”.
Ẩn Phong rất tự tin nói: “Có mang gậy theo thân, gặp việc cứ nô đùa”.
Mã Tổ chấp nhận lời từ biệt của Ẩn Phong, Ẩn Phong liền từ Giang Tây đến Hồ Nam để bái yết Thiền sư Thạch Đầu. Ẩn Phong vừa gặp Thiền sư Thạch Đầu, trước hết là đi quanh thiền sàng một vòng, sau rung tích trượng, hỏi: “Là tông chỉ gì?”.
Thiền sư Thạch Đầu gọi: “Trời ơi, Trời ơi”.
Ẩn Phong không rõ nguyên do, không thể đối đáp. Bất đắc dĩ, Ẩn Phong lại về đến bên Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, đem tình cảnh tham vấn Thạch Đầu Hi Thiên nói qua một lần. Mã tổ Đạo Nhất Thiền sư chỉ thị: “Ngươi hãy đi một lần nữa. Hễ nghe Thạch Đầu Thiền sư nói: Trời ơi, Trời ơi! Thì ngươi liền bịt miệng ông ta”
Ẩn Phong lại đến Nam Nhạc, và hỏi giống như lần trước: “Là tông chỉ gì?”.
Thiền sư Thạch Đầu liền dùng ngón tay bịt miệng phát ra tiếng hư hư, Ẩn Phong mù mịt không biết làm gì, chỉ đành lại trở về nói hết cho Mã Tổ nghe.
Mã Tổ sau khi nghe xong liền nói: “Ta đã nói với ngươi rồi, đường đá trơn trợt lắm mà!”. 


ÁNH TRĂNG SOI ĐƯỜNG VỀ 

Có một vị Thiền sư sống trong một am tranh chật hẹp, đời sống rất là giản dị. Một hôm trời tối, Thiền sư đi giảng kinh ở ngoài trở về, có tên trộm vào am ngài. Nhờ ánh trăng mà tên trộm nhìn thấy Thiền sư đã về đến, vì không còn chạy kịp nên rất lo lắng, không biết làm thế nào đây ? Thấy Thiền sư đi với hai tay không và vẻ mặt vui vẻ thì tên trộm nghĩ: 
- Bây giờ phải tẩu thoát thôi, bằng không để ông ấy bắt thì nguy, và đây là y phục của ông vậy mình lấy mặc ngay.
 Tên trộm quơ tay lấy y phục mặc vào rồi tháo chạy. Thiền sư nhìn thấy tên trộm dưới ánh trăng liền cảm động thở dài: 
- Đáng tiếc là ta không thể đem trăng để đưa ông đi mà chỉ nhờ ánh trăng soi đường về của ông thôi! 


TÁNH TÌNH 

Một thiền sinh đến phàn nàn với Bankei: “Bạch thầy, con có một tánh xấu bất trị, làm sao con sửa chữa được?”
Bankei đáp: “Con có cái gì lạ lắm à? Hay đưa thầy xem nào.”
Thiền sinh nói: “Ngay bây giờ con không tỏ cho thầy được.”
Bankei hỏi: “Vậy khi nào con có thể tỏ cho thầy biết được?”
Thiền sinh đáp: “Nó xuất hiện bất ngờ lắm.”
Bankei kết luận: “Rồi, nó không phải là bản tánh chân thật của con. Nếu nó là bản tánh của con, con có thể tỏ cho thầy được bất cứ lúc nào. Khi mới sinh, con không có nó, và cha mẹ con cũng không cho con. Hãy nghĩ kỹ coi.” 


THIỀN CỦA PHẬT 

Phật nói: “Ta xem những nơi các vua và các nhà cầm quyền cai trị như là những hạt bụi. Ta xem những kho vàng và châu ngọc như những viên gạch và những viên sỏi. Ta nhìn những chiếc áo lụa tốt đẹp nhất như những mảnh vải rách tả tơi. Ta thấy vô số thế giới của vũ trụ này như những hạt trái cây, và chiếc hồ lớn nhất ở Ấn Độ như một giọt dầu trên bàn chân ta. Ta biết những giáo lý của thế gian là những ảo thuật của những tên phù thủy. Ta thấy rõ tư tưởng cao siêu của sự giải thoát như là một miếng nhung vàng trong giấc mộng, thấy thánh đạo của những kẻ thông sáng như những đóa hoa xuất hiện trước mắt một người. Ta xem sự Thiền định như là một trụ cột trên núi cao và Niết Bàn là một cơn mộng du giữa ban ngày. 


LÁ THƯ CHO NGƯỜI HẤP HỐI 

Bassui viết lá thư sau đây gửi cho một đệ tử sắp chết:
“Bản tánh của tâm con không sinh, vì thế nó không bao giờ chết. Nó không phải là một hiện hữu, nên nó không biến mất. Nó không phải là cái trống rỗng, mà là cái chân không. Nó không có màu sắc và hình thể. Nó không hưởng thụ khoái lạc và không chịu sự đau đớn.
Thầy biết con bệnh nặng lắm. Giống như một người học thiền giỏi, con đang đối diện hoàn toàn với sự đau đớn. Có thể con không rõ ai là kẻ đang đau khổ, nhưng hãy hỏi chính con: “Bản tánh của tâm này là gì?”. Hãy nghĩ một điều này thôi. Con sẽ không cần gì nữa. Đừng ham muốn gì cả. Sự chấm dứt của con không chấm dứt, nó giống như một bông tuyết trong trắng tan biến trong thinh không tinh khiết.” 


THỜI ĐỂ CHẾT 

Thiền sư Ikkyu từ lúc bé đã rất thông minh. Thầy của Ikkyu có một cái tách trà xưa rất quý và hiếm có. Ikkyu lỡ tay đánh vỡ tách trà, lòng rất xao xuyến. Nghe tiếng chân thầy đến gần, Ikkyu nhanh nhẹn đấu những mảnh vỡ ra đằng sau. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Thưa thầy, tại sao người ta phải chết?”
Ông thầy già cắt nghĩa:
“Đó là lẽ tự nhiên. Mọi vật đều phải chết vì đã sống lâu rồi.”
Ikkyu đưa cái tách vỡ ra nói:
“Thế đã đến lúc cái tách của thầy phải chết.” 


LÃNH CHÚA ĐẦU BÒ 

Hai Thiền sư Daigu và Gudo được một vị lãnh chúa mời. Khi đến, Gudo nói với vị lãnh chúa: “Bản tánh ngài thông minh, có khả năng bẩm sinh để học Thiền”.
Daigu nói:
“Vô lý. Tại sao anh nịnh cái đầu bò này? Ông ta có thể là lãnh chúa, nhưng ông ta không biết gì về Thiền hết”.
Vì thế, thay vì vị lãnh chúa xây môt ngôi đền cho Gudo, ông ta lại xây nó cho Daigu và học Thiền với ông này. 


KHÔNG PHẢI LÀ THẦY

Thiền Sư Động Sơn Lương Giới Sư họ Du thuở nhỏ theo thầy học đạo. Một hôm tụng Bát- Nhã Tâm Kinh, đến câu “ Không có mắt, tai. mũi, lưỡi, thân, ý”, Sư liền sờ lên mặt mình mà hỏi thầy rằng: “Con có đầy đủ sáu căn, vì sao kinh nói không có?” 
Sư tổ kinh ngạc nói: “Bao nhiêu năm đọc kinh ta vẫn không thấy điều nầy, con đã hơn ta rồi, ta chẳng phải là thầy của con, hãy qua tham lễ Thiền Sư Linh Mặc ở núi Ngũ Duệ”.


CHÉM CÁI "NHÁT"

Miyamoto Musashi được xem là một kiếm sĩ vô địch. Một hôm ông được lãnh chúa Hosokawa tiếp, và hỏi trong số thủ túc của ông có ai là tay kiệt xuất. Miyamoto đưa tay chỉ vào một thuộc hạ có tên là Yoko Tahei . Lãnh chúa hỏi làm sao Yoko có được dũng khí.
Yoko đáp: 
-Tôi nhận ra mình thật quá hèn nhát và tôi đã tìm ra phương pháp để luyện dũng khí . Tôi tự đặt mình trong tâm trạng luôn luôn có thể bị bửa ra làm hai. Để đạt được tâm trạng đó, tôi tọa thiền và khi ngủ tôi treo một thanh kiếm trên trần, mũi hướng thẳng vào yết hầu của mình. Thoạt tiên nỗi khiếp sợ làm tôi không tài nào an giấc. Nhưng giờ đây tôi đã ngủ thoải mái. Mỗi ngày khi ra đi thi hành nhiệm vụ, tôi đều tự nhủ không cần nghĩ đến còn sống để trở lại.


CHÂN PHẬT

Có người hỏi thiền sư Lâm Tế : “Chân Phật là gì, chân Pháp là gì, chân Đạo là gì ?”
Thiền sư đáp : “Phật thật là sự thanh tịnh của tâm mình, Pháp thật là ánh sáng của thân mình, Đạo thật là ánh sáng thanh tịnh chiếu soi khắp chốn. Ba cái vốn là một, đều là giả danh, không thật có. Người học đạo chân chính thì phải duy trì chánh niệm về ba đối tượng ấy một cách miên mật… Nếu quý vị đạt tới tính vô sinh của vạn pháp, biết rằng tâm là huyễn hóa, thật ra không có một đối tượng nào, một hiện tượng có thật. Bất cứ đâu đâu cũng là thanh tịnh thì đó là Phật rồi. 


BẤT BIẾN VỚI VẠN BIẾN

Thiền sư Đạo Thọ xây dựng một ngôi tự viện gần miếu quán của một đạo sĩ. Đạo sĩ không vừa ý nên biến thành ma quỷ đến nhiễu loạn, muốn thiền sư bỏ đi. Đạo sĩ dùng hết phép thuật mà thiền sư Đạo Thọ vẫn không đi. Đạo sĩ không còn cách nào hơn, đành bỏ miếu quán dời đi nơi khác.
Sau này, có người hỏi :
- Các đạo sĩ có phép thuật cao cường, sao thầy thắng được họ?
Đạo Thọ nói:
- Ta không có gì để thắng được họ cả, miễn cưỡng mà nói, chỉ có một chữ “Không” mới thắng được họ.
- Chữ “Không” làm sao thắng được họ?
- Họ có phép thuật, phép thuật có giới hạn, có lúc phải hết; còn ta không phép thuật, có nghĩa là không giới hạn không cùng tận. Sự quan hệ giữa có và không là bất biến ứng với vạn biến. Ta không biến đương nhiên sẽ thắng biến hóa.


CAO VÀ XA

Học tăng muốn vẽ một bức tranh ở trước thiền viện Long Hổ Tự, mô phỏng theo một bức họa rồng và cọp vồ nhau. Trong bức tranh, rồng ở trong mây lượn vòng xuống dưới, còn cọp ngồi xổm trên ngọn núi, làm thế muốn vồ về phía trước. Tuy nhiên đổi tới đổi lui nhiều lần, nhìn tổng quát vẫn cảm thấy động tác chưa giống như thật. Đúng lúc ấy Thiền sư Vô Đức từ bên ngoài trở về, học tăng liền xin ý kiến của thiền sư.
Thiền sư Vô Đức sau khi xem tranh rồi nói:
- Ngoại hình của rồng và cọp vẽ đã đạt chẳng nên xoá bỏ, riêng đặc tánh của rồng và cọp các huynh hiểu biết còn hạn chế. Rồng ở tư thế trước khi tấn công, đầu cần phải rút lùi về phía sau. Cọp khi muốn chồm về trước, đầu tất nhiên tự hạ xuống đất. Cổ rồng càng hướng về sau thì sức quật lại càng mạnh. Đầu cọp càng hạ sát mặt đất, thì nó liền có khả năng tấn công càng nhanh và nhảy lên lại càng cao. Đạo lý tham thiền tu đạo cũng giống như thế, chuẩn bị lùi lại một bước về sau, thì khả năng tiến về trước càng xa, sau khi phản tỉnh khiêm nhường thì năng lực vươn lên lại càng cao. 


NÚI CHẲNG DỜI THÌ TA DỜI 

Nhóm đệ tử ham thích thần thông hỏi sư phụ:
- Thầy ơi, thầy chỉ tụi con thuật di sơn đảo hải (dời non lấp biển) đi.
- Được, vậy các con hãy đứng đây, chú tâm nhìn vào ngọn núi đằng kia... Thầy sẽ làm cho nó xích lại gần ta.
Các đệ tử tập trung dòm núi suốt 3 ngày 3 đêm mà chẳng thấy có tác dụng gì cả,... khi thấy sư phụ từ trong nhà thong thả đi ra thì liền nhao nhao lên:
- Thầy ơi, sao chẳng thấy ngọn núi đó động đậy gì cả vậy?
- Vô dụng, vô dụng! Các con tu tập bao lâu rồi mà vẫn còn chấp cái ngọn núi!?!
- Dạ chúng con không hiểu ạ.
- Vậy thì đi theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.
Sau khi dẫn đám đệ tử đến chân núi, sư phụ dừng lại bảo:
- Các con đã thấy núi xích lại gần ta chưa?
- Dạ gần, nhưng đó là do Thầy đi đó chứ...
- Chẳng phải là núi không thể dời đi, nhưng để dời nó đi một li, ta phải tốn công gấp tỉ lần ta đi tới nó. Vậy sao cứ phải cố chấp vào việc núi dời chi vậy?! 


CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI 

Một đệ tử thích lý luận hỏi sư phụ:
- Thưa thầy, con tu tập bao lâu rồi mà vẫn chưa tìm ra được cái chân lý tuyệt đối! 
- Vậy từ đó đến nay con có thấy cái gì là hoàn toàn đúng không thể chối cãi được không?
- Dạ có.
- Con thử kể một cái như vậy ra xem.
- Dạ, ví như chuyện sanh-tử, không có ai sinh ra đời rồi mà không chết đi cả.
- Vậy đó chính là chân lý rồi đó thôi.
- Nhưng thưa Thầy, chân lý đó chưa là tuyệt đối, vì có người nói là có thể trường sinh bất lão. Thậm chí có người còn đưa ra bằng chứng về một người sống suốt mấy ngàn năm nay vẫn chưa chết.
- Vậy con có tin không?
- Dạ con không tin, nhưng không có cách nào phản bác họ được.
- Con tin, tức đó là chân lý của con vậy.
- Dạ thưa... Nếu chỉ là chân lý của con thì sao gọi là tuyệt đối được ạ?!
- Cái "chân lý tuyệt đối" con tìm chẳng qua chỉ là cái lý có chân mà thôi! 
- Dạ, xin thầy giảng cho con được rõ hơn ạ.
- Này nhé, ta có thể đưa ra một chân lý khác mà nhiều người chấp nhận hơn, và cho đến hết đời này con cũng không tìm ra được ai phản đối nó cả, nhưng đó cũng chẳng thể tuyệt đối như con muốn được. Chân lý là sản phẩm của con người, là phát biểu của con người về thế giới, tất phải phụ thuộc vào người hoặc nhóm người phát biểu nó. Hễ khi nào con còn chấp vào hai chữ "tuyệt đối" thì chẳng bao giờ con tìm ra được chân lý, hoặc là chúng nó phải có chân để chạy đi từ người này qua người khác, từ quan điểm này qua quan điềm khác vậy. 


GIỌT NƯỚC CÀNH DƯƠNG 

Một vị nữ tu xuất gia ở chùa. Cô bị đau tim, con nhà nghèo, học vấn kém. Cô hay tủi thân, mặc cảm vô phước nên cứ buồn khóc hoài! Đồng đạo khuyên lơn, cô lại càng khóc nhiều hơn! 
Một hôm Sư Tổ đến thăm chùa, sư cô trụ trì trình bày sự tình và dẫn cô ra nhờ Sư khuyên giùm, biết đâu có duyên giúp cô bớt khổ được.
Sư nói:
- Ờ! Khóc được cứ khóc, mà thay vì khóc cho bản thân mình, nên khóc giùm cho kẻ khác, mình sẽ hết khổ. Sự thật dù định mệnh có khắt khe đến đâu, nhìn kỹ xung quanh mình vẫn còn có biết bao người đáng khóc hơn, đau khổ hơn. Khóc thương cho kẻ khác, con sẽ được niềm vui. Nhìn ra sân chùa thấy tượng Quan Thế Âm lộ thiên tay cầm tịnh bình, tay cầm nhành dương liễu, Sư nói tiếp:
- Giọt nước mắt vị tha là giọt nước cành dương, nó rưới tan những ưu sầu phiền não. Còn giọt nước mắt khóc cho bản thân là giọt lệ đắng cay! Tánh hay khóc thì khóc giùm cho người ta, mình sẽ hết khổ. 


TÍNH BUÔNG 

Một nông dân gặp Sư, anh hỏi:
- Bạch Thầy, chừng nào sẽ tới thời mạt pháp, thời thế nhiễu nhương.
- Chi vậy?
- Đặng coi gần tới mình buông!
- Chờ ăn không được mới buông ai mà mang ơn, muốn buông thì buông trước đi! 


BÌNH THIÊN KHÔNG BÌNH ĐỊA 

Một tín đồ hỏi:
- Mình thương con cháu đồng như nhau, nhưng sự lo lắng giúp đỡ không đồng. Vậy có bất công không?
Sư đáp:
- Không bất công đâu! Tình thương như nước, bằng mặt trên chớ không bằng mặt dưới (Bình thiên không bình địa). Mặt nước tuy phẳng nhưng đáy nước chỗ sâu chứa nhiều, nơi gò nỗng chứa ít nước hơn. Con cháu mình thương đồng nhưng đứa nào khờ khạo tật nguyền thì mình lo cho nó nhiều hơn đứa khôn ngoan giỏi dắn. 


SỐNG CHẾT LÀ MỘT 

Có người hỏi:
- "Sống chết là một". Bạch Thầy là sao?
Thầy đáp:
- Mỗi một ngày qua, có thể nói mình sống thêm được một ngày, hay bảo rằng mình đã chết đi hết một ngày cũng đều đúng! 


TÔN GIÁO GIEO MÊ TÍN ? 

Một người ngoại đạo hỏi Sư: 
- Tôn giáo sao hay gieo mê tín quá vậy ? Chừng gỡ được cũng trầy vi tróc vẩy.
Sư đáp:
- Không phải đâu! Mê tín là khởi nguyên của tôn giáo. Nếu không có mê tín sẽ không có tôn giáo. Có điều một chánh giáo thì dẫn người ta từ mê tín đến trí tín, từ bờ mê sang bến giác. Còn tà giáo thì gây mê mờ thêm, đưa người đi sâu vào mê lộ! 


TỈNH DẬY 

Thế gian này có quá nhiều chuyện phiền não, vì vậy, rất nhiều người đi gặp Phật cùng hỏi về một vấn đề: "Con nên làm thế nào mới không còn những điều phiền muộn?" 
Phật đều trả lời giống nhau:
- Chỉ cần buông ra, con sẽ thôi không phiền não nữa.
Có một đạo sĩ tỏ ý không phục, bèn đi gặp Phật và hỏi:
- Trên thế gian này có hàng ngàn hàng vạn người, thì sẽ có hàng ngàn hàng vạn điều phiền não. Nhưng, Người cho họ giải pháp đều hoàn toàn như nhau, vậy đó chẳng buồn cười lắm sao?
Phật không nổi giận, chỉ hỏi ngược lại đạo sĩ:
- Buổi tối ông ngủ có thường hay nằm mơ không?
- Đương nhiên là có! 
- Vậy, mỗi buổi tối nằm mơ, giấc mơ đều như nhau không?
- Đương nhiên là khác nhau rồi!
- Ông ngủ hàng ngàn hàng vạn lần, thì sẽ mơ hàng ngàn hàng vạn lần giấc mơ. Nhưng cách kết thúc giấc mơ, đều như nhau cả, đó là: "tỉnh dậy!" 


SAU KHI CHẾT GẶP NHAU Ở ĐÂU 

Sư viếng một ông tăng bị bệnh. Sư hỏi:
- Nếu sư đệ chết và chỉ để lại cái xác ở đây thì tôi có thể gặp sư đệ ở đâu?
Ông tăng bị bịnh đáp:
- Tôi sẽ gặp sư huynh ở chỗ không có gì sinh và không có gì tử.
Sư không hài lòng với câu đáp, nói:
- Sư đệ nên nói rằng không có chỗ nào không có gì sinh và không có gì tử, và chúng ta chẳng cần thấy nhau chi hết. 


CHÙA NAM - CHÙA BẮC 

Một đệ tử từ chùa Bắc đến thăm chùa Nam. Đệ tử chùa Nam nói:
- Chùa phương Nam của chúng tôi không phải là thượng đẳng so với chùa ở phương Bắc.
Đệ tử chùa Bắc không biết nói gì, nên im lặng. Khi trở về kể lại những gì đệ tử chùa Nam đã nói. 
Sư nói:
- Chú nên nói với ông ấy rằng bất cứ ngày nào tôi cũng sẵn sàng nhập niết bàn. 


CHỮ TÂM 

Một thiện nam viết chữ “Tâm”, kiểu chữ Hán, tượng hình cho trái tim, lên cổng, cửa sổ và tường của ngôi nhà nhỏ của ông ta. Một thiền sinh nghĩ như vậy là sai và muốn sửa lại cho đúng, nói:
- Cổng phải có chữ cổng, cửa sổ và tường mỗi cái phải có chữ riêng của nó.
Sư nói: 
- Cổng tự nó hiện bày chẳng cần có chữ, cửa sổ và tường cũng vậy, chẳng cần bảng hiệu gì cả. 


ĐỊA TẠNG PHẬT PHÁP 

Một hôm Địa Tạng tiếp một đệ tử của Bảo Phước như một vị khách và hỏi ông ta: 
- Thầy ông chỉ dạy ông như thế nào trong Phật pháp?
Ông tăng đáp:
- Thầy chúng con bảo chúng con nhắm mắt lại, chớ thấy điều ác; bịt tai lại, chớ nghe tiếng ác; dừng tâm suy nghĩ lại, chớ tạo ý nghĩ sai lầm.
Địa Tạng nói:
- Tôi không đòi hỏi ông bịt mắt lại, mà không thấy điều ác. Tôi không đòi hỏi ông bịt tai lại, mà không nghe tiếng ác. Tôi không đòi hỏi ông dừng tâm suy nghĩ, mà không tạo ý nghĩ sai lầm nào cả. 


ĐÁNG ĐÁNH ĐÒN 

Cảnh Thanh hỏi một ông tăng mới, từ đâu đến. Ông tăng đáp:
- Từ Tam sơn đến.
Cảnh Thanh hỏi tiếp:
- Mùa an cư vừa rồi ở đâu? 
Ông tăng đáp: 
- Ở Ngũ nhạc.
Cảnh Thanh nói:
- Tôi sẽ đánh ông ba chục gậy bự này.
Ông tăng hỏi:
- Tại sao con đáng ăn gậy của hòa thượng?
Cảnh Thanh đáp:
-Tại vì ông bỏ chùa này tới chùa kia. 


QUAN THƯỢNG THƯ 

Thượng thư Trần Tháo đi lên cầu thang với những người trong ban tham mưu của ông. Khi thấy một nhóm tăng nhân đi ngang qua dưới đường lộ, một trong các quan thuộc hạ hỏi: 
- Họ có phải là tăng nhân thiền hành không? 
Trần Tháo đáp:
- Không.
Viên chức ấy hỏi:
- Làm sao đại nhân biết họ không phải là tăng thiền hành ?
“Để khám nghiệm xem” Trần Tháo đáp xong liền kêu to:
“Này! chư tăng!” Nghe tiếng gọi, tất cả nhìn lên cửa sổ. Trần Tháo nói:
- Đó! Không phải tôi đã nói với ông như vậy sao? 


CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU 

Một thiền sinh trẻ tuổi lần đầu tiên tới thăm một thiền sư. Vừa ngồi xuống, anh huênh hoang cất giọng thao thao:
- Làm gì có tâm trí, có thân xác, có thiện, có ác! Thầy chẳng có, trò cũng không; chẳng có cái cho đi, cũng chẳng có cái nhận về; có cái gì trên đời này mà là thật đâu. Cái chính thật là Hư Vô! 
Vị thiền sư ngậm ống điếu bình thản ngồi nghe không thốt nửa lời. Chợt thiền sư với lấy chiếc roi bất thần giáng một cái thật mạnh lên người thiền sinh. Thiền sinh hốt hoảng vùng dậy, không giấu được về giận dỗi, nhưng còn lúng túng chưa biết nói sao. 
Thiền sư điềm tĩnh cất lời:
- Nếu quả thực chẳng có gì trên đời này là thực và tất cả là hư vô, thì sự giận dữ của người từ đâu đến? 


SỬA ĐỔI THIÊN NHIÊN 

Hai chú tiểu ngồi dưới gốc cây bồ đề, một chú nhận xét: 
- Thiên nhiên có những điều bất cân xứng cần phải sửa chữa lại. 
Chú khác hỏi: 
- Thí dụ cái gì bất cân xứng? 
- Thì chú thấy đó, bên kia cây dưa hấu nhỏ như vậy mà trái thật to, còn cây bồ đề to tướng thế này mà trái nhỏ xíu! 
Ngay khi đó gió thổi rụng những trái bồ đề trên đầu họ. Chú tiểu kia nói: 
- May mà chú chưa kịp sửa thiên nhiên, chứ không thì bể đầu cả đám! 


TU SỬA 

Một thiền sinh hỏi: 
- Có phải tu là sửa không ? 
Sư nói : 
- Không. 
- Vậy là không sửa ?
- Cũng không .
Thiền sinh không hiểu, thắc mắc: 
- Như vậy tu phải làm sao ? 
Sư đáp : 
- Không sửa thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái khác. 


MỤC ĐÍCH 

Một võ sư lừng danh hỏi người đệ tử mới nhập môn: 
- Con muốn học võ à? 
- Vâng, con muốn học võ để chiến thắng kẻ địch. 
- Con ạ, còn nghĩ đến chiến thắng và kẻ địch thì chưa học võ được đâu vì còn hiếu thắng. 
- Vậy con chỉ học võ để tự vệ thôi. 
- Còn đề kháng tự vệ cũng chưa học võ được vì còn vị kỷ.
- Nếu vậy con học võ để làm gì? 
- Lại để làm gì ! Chung quy con vẫn còn vướng vào một mục đích. 
Võ sinh ngạc nhiên : 
- Nhưng làm thế nào có thể học võ mà không có mục đích? 
Võ sư ung dung bước ra giữa võ đường múa một bài quyền và nói: 
- Anh cứ thế mà làm không được sao ? 


TRẢ ĐŨA 

Lão hành khất vào ngồi trong hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày: ít vắt cơm, muối và... một con cá rô cây.
Người gác chùa quan sát bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng. Ông hỏi người hành khất với giọng châm biếm: 
- Này ông lão, ông làm gì với con cá gỗ ấy hay cuối cùng cũng chỉ cơm với muối?
Lão hành khất bình tĩnh đưa tay chỉ tượng Phật bằng đá trên tòa sen giữa chánh điện trả đũa: 
- Này ông bạn, còn ông làm gì với tượng Phật đá kia hay cuối cũng cũng chỉ vô minh với ái dục? 


CHẲNG CÓ AI TIN 

Thị giả của Phật Tổ Thích Ca là Ngài A-nan được lịnh xuống trần xem thời mạt pháp như thế nào. Chẳng bao lâu, Ngài đã trở về trình bạch: 
- Bạch Đức Thế Tôn! Hình như sau khi thế Tôn nhập diệt, ở dưới trần còn có nhiều Phật khác xuất hiện. 
- A- nan, sao con lại nói vậy? 
- Bạch Thế Tôn! Thứ nhất là có nhiều hình tượng Phật diện mạo khác nhau, dĩ nhiên là khác xa Thế Tôn, được thờ cúng khắp nơi. Hai là có nhiều kinh điển, pháp môn đều nhận là giáo lý của Thế Tôn nhưng khác xa giáo pháp mà con đã được nghe và thuộc nằm lòng do chính Thế Tôn thuyết giảng. Ba là có rất nhiều tông phái khác nhau tự xưng là truyền thừa chính thống từ Thế Tôn, nhưng hoàn toàn mâu thuẫn với nhau... Chính vì vậy, con chắc rằng có nhiều Phật đã xuống trần sau khi Thế Tôn nhập diệt. 
- A-nan, chớ có nói vậy. Sau Như Lai, chỉ có Phật Di-Lặc mà thôi. Nhưng Bồ Tát Di-Lặc chưa đến thời giáng thế. Vậy nếu có ai xưng Phật, chắc chắn là Phật giả. Con mau xuống trần đính chính kẻo chúng sanh lầm lạc. 
- Bạch Thế Tôn! Con không thể đi được, vì từ lâu họ đã gán cho con là tiểu thừa rồi, chẳng còn ai tin con nữa! 
- Thôi A-Nan, thời mạt pháp nghiệp dĩ như vậy thì cứ là như vậy. 


ĐỒNG HAY BẤT ĐỒNG 

Một học giả nghiên cứu về những điểm dị đồng giữa các tôn giáo hỏi ý kiến Sư: 
- Đạo Khổng nói “thuận thiên lập mệnh”, Đạo Thiên Chúa nói “vâng ý Cha”, Đạo Lão nói “Đạo pháp tự nhiên”, còn Đạo Phật cũng nói “Tùy Pháp Hành”. Những giáo lý ấy có giống nhau không? 
Sư nói: 
- Giống ở người thấy, không giống ở người không thấy. 


PHÂN BIỆT MINH BẠCH 

Sư giảng pháp nói: 
- Các vị cần phải nghiêm mật thận trọng trong mỗi hành vi động tịnh của thân, khẩu, ý; phải lấy trí tuệ phân biệt minh bạch vi tế đối với thiện ác, đúng sai, chân giả, xấu tốt v.v... Nếu không, chẳng biết khi nào ra khỏi sông mê bể khổ... 
Một thiền sinh đứng dậy thưa: 
- Xưa nay kinh luận cũng như thiền đều nói: “Tâm vô phân biệt”, sao Thầy lại dạy phân biệt quá minh bạch như vậy?
Sư hỏi: 
- Vậy đưa anh một chén cơm với một chén đất, anh ăn chén nào? 


VÔ NGà

Từ khi vào thiền viện, anh nhất định phải thực hiện tinh thần vô ngã mà anh đọc được trong một số sách thiền: thể nhập pháp giới. 
Một ngày kia anh mừng rỡ trình với Sư: 
- Thưa Thầy, con đang tưới hoa, bỗng thấy con với hoa là một. 
Sư nói: 
- Anh đã thấy anh với hoa là một thì cứ việc tưới anh là được, cần gì đi tưới hoa cho mệt! 


TRÀ ĐẠO 

Khách đến viếng một trà thất, chủ nhân tiếp đón theo nghi phong trà đạo Nhật Bản. Khách thì lại cứ rót trà uống tự nhiên không theo luật lệ nào cả. 
Thấy vậy, chủ nhân khéo léo thuyết minh về trà đạo, về cách pha trà và phong thái uống trà v.v... 
Nghe xong, khách nói: 
- À, thì ra trà đạo là vậy! Tôi cứ tưởng đạo trà là khát thì uống thôi chứ. 
Rồi khách xuất khẩu ngâm: 
Xưa nay trà là đạo 
Khát chỉ việc uống thôi 
Nghĩ thêm trà với đạo 
Đầu thượng trước đầu rồi! 


BỊ TỰ DO NGĂN NGẠI 

Một thiền sinh mới nhập môn quen sống phóng túng theo kiểu “thiền du hí” của anh từ lâu, nên không thể nào chấp nhận luật lệ quá nghiêm cẩn của thiền viện. Anh nói: 
- Thiền là tự do giải thoát. Thiền giải phóng con người ra khỏi mọi ràng buộc, vì sao thiền viện này giới luật khắt khe như vậy? 
Sư nói: 
- Người thật sự tự do thì có thể ung dung trong ràng buộc, cho nên ràng buộc tuy có mà không. Còn người không chịu nổi ràng buộc, vì chưa đủ sức tự tại vô ngại, cho nên ràng buộc vốn không bỗng trở thành ngăn ngại. Tiếc thay, chính anh đã bị tự do ngăn ngại mất rồi! 


CỬA TRỜI RỘNG MỞ 

Chư Thiên cõi trời Đao Lợi nhìn xuống cõi trần thấy nhiều người đau khổ, động lòng từ liền bạch với vua trời Đế Thích: 
- Tâu Bệ Hạ, xin Ngài rủ lòng từ bi mở cửa cho người trần được vào thiên giới, như thế mọi người mới được công bằng bình đẳng. 
- Không được, nghiệp dĩ thế nào phải chịu như vậy mới gọi là công bằng. 
Nhưng Chư Thiên cứ tâu mãi nên Vua Trời đành cho mở cửa. 
Chẳng bao lâu Vua Trời phải triệu tập Chư Thiên để thành lập lực lượng phòng chống tệ nạn xã hội và soạn thảo bộ luật hình sự. 


TRIẾT HỌC LÀ GÌ 

Để mở mang kiến thức ngoại điển, Sư cho tăng chúng học thêm triết học Đông Tây. Sau nhiều giờ học, một chú tiểu hớn hở nói với bạn: 
- Đến nay, tôi đã hiểu triết học là gì rồi. 
Chú tiểu kia thì đang mù tịt cái môn phiền phức này nên như người chìm vớ được phao: 
- Nói nghe mau đi, triết học là gì vậy? 
- Ối, có gì đâu! Triết học chỉ là một hệ thống ngôn ngữ phức tạp nói về những điều giản đơn đó mà! 


SINH LÃO BỊNH TỬ 

Sau nhiều năm tinh tấn tu hành, một vị tăng vẫn không sao đạt được mục đích mà ông hướng đến là thoát ly sinh, già, đau, chết. Đang lúc buồn nản thì Sư đến thăm. Vị tăng hỏi: 
- Làm sao thoát khỏi sinh - lão - bịnh - tử?
Sư than: 
- Chỉ tội cho Sinh - Lão - Bịnh - Tử thoát không khỏi ông! 


SẮC KHÔNG 

Sư ghé thăm một vị tăng nổi tiếng uyên thâm Phật Pháp và có nhiều sở đắc. Vừa thấy Sư, vị tăng dùng phép thần thông ẩn mình đâu mất. 
Sư hỏi: 
- Ông làm gì vậy? 
Vị tăng nói: 
- Đó là “sắc tức thị không”. 
Sư nói: 
- Đã “sắc tức thị không” sao ông lại phải biến mất làm gì. Hơn nữa ông chỉ mới giấu được cái sắc thân, còn cái bản ngã của ông xem ra lại càng lộ rõ hơn! 
Vị tăng cả giận hỏi lại:
- Còn Thầy thì sao? 
Sư đáp: 
- Ngươi không thấy ta “sắc bất dị không” hay sao? 


THÁNH KHÔNG BIẾT ĐAU 

Thị giả của Sư nghe người ta kể rằng chủ nhà của hiền triết Epitète đối xử với ông rất tệ. Người chủ cho vặn chân Épitète để tiêu khiển. Nhà hiền triết nói: 
- Nếu ngài tiếp tục thì chân tôi sẽ gãy. 
Nhưng người chủ vẫn tiếp tục và chân ông gãy thật. Epitète ôn tồn nói: 
- Đấy, tôi nói có sai đâu. 
Nghe xong, thị giả cứ khen hoài: “Thật là một nhà hiền triết siêu việt!” Rồi thị giả chợt nghĩ rằng: “Thầy mình là một thiền sư nổi tiếng, vậy để xem có bằng Épitète không?” Nhân Sư đang nằm nghỉ, thị giả tụm lấy chân Sư vặn mạnh. Sư nói: 
- Đau, đau. 
Thị giả thất vọng nói:
- Còn đau thì đâu phải là đạt đạo! 
Sư nói: 
- Chứ ngươi muốn ta đạt cái đạo vô cảm giác hay sao? 


THIỀN ĐỊNH LÂU NHẤT 

Sư hỏi các đệ tử: 
- Trong các con, ai hành thiền định lâu nhất? 
Các đệ tử lần lượt thưa: 
- Con nhập định một giờ. 
- Con nhập định một ngày.
- Con nhập định bảy ngày. 
Cuối cùng, một người đệ tử thưa: 
- Thưa Thầy, con không biết con nhập bao lâu, chỉ biết là con đang thở từng hơi thở mà thôi. 
Sư mừng rỡ nói: 
- Thế mà con thiền định lâu nhất đó. 


THIÊN THỦ THIÊN NHÃN 

Một thiền sinh hỏi: 
- Thưa Thầy, theo Mật Tông, Đức Chuẩn Đề có ngàn tay ngàn mắt là ý nghĩa gì? 
Sư nói: 
- Ngươi cũng có ngàn tay ngàn mắt nhưng chưa vô ngại đại bi đó thôi. 
- Làm sao con có ngàn tay ngàn mắt được? 
- Sao lại không? Nóng lạnh, đói no, vui buồn, mừng giận, đẹp xấu, dở hay, phải trái,... cho đến ngàn chuyện ngươi đều biết, đó không phải ngươi có ngàn mắt hay sao? Lại còn làm lụng, đi đứng, ăn ngủ, nói năng, suy tính, tạo tác, động tịnh,... cho đến ngàn việc ngươi đều làm được, đó không phải ngàn tay là gì? 


BẮT CHƯỚC THIỀN SƯ 

Nhiều thiền sinh sau khi đọc hành trạng của các thiền sư cổ đức, mỗi người tâm đắc hành trạng của một vị thiền sư nào đó và bắt chước y hệt những gì ghi lại trong các ngữ lục. 
Có thiền sinh đưa lên một ngón tay, thiền sinh khác chỉ cây tùng trước sân, có người toan chẻ tượng Phật, có người lại định giết cả mèo v.v... 
Sư nói: 
- Các sách vở chỉ ghi chép một điểm nhỏ trong đời sống phong phú của các thiền sư, các ngươi chỉ bắt chước được một điểm nhỏ đó thôi chứ làm sao bắt chước được đời sống toàn diện của các Ngài. Chẳng lẽ các Ngài suốt đời chỉ làm một chuyện đó thôi sao? 


KHÔNG CÓ ĐƯỜNG ĐẾN NIẾT BÀN 

Ai cũng biết mục đích tối hậu của Đạo Phật là Niết Bàn. Như vậy, chẳng cần nghĩ bàn gì, người ta cứ việc khẳng định rằng Đạo Phật chính là con đường đi đến Niết Bàn đó. 
Nhưng Sư lại nói: 
- Chẳng bao giờ có con đường đến Niết Bàn, chỉ có đường vào luân hồi sinh tử mà thôi.
Các thiền sinh rất lấy làm lạ, thắc mắc: 
- Như vậy, Đức Phật dạy Đạo để làm gì? 
Sư nói: 
- Đạo chỉ để xóa tan Tập đế, như ánh sáng xóa tan bóng tối chứ đâu phải đường đến Niết Bàn. Ví như trong bóng tối anh không tự nhìn thấy mình, đến khi thắp đèn lên mới thấy được mình. Như vậy, anh không cần phải đi đâu mà tìm kiếm chính anh. Niết Bàn cũng y như vậy. 


CẢNH GIỚI LÝ TƯỞNG CỦA THIỀN 

Một thiền sinh nói: 
- Cảnh giới lý tưởng nhất của thiền là hoàn toàn tự do thoải mái. Tất cả luật lệ, khuôn phép,, giáo điều, lễ nghi, quy tắc v.v... đều chỉ là những ràng buộc, nên chúng hoàn toàn vắng bóng trong thế giới thiền.
Một thiền sinh khác cãi lại: 
- Cảnh giới lý tưởng nhất của thiền là hoàn toàn nghiêm túc. Anh không nghe người ta nói “trang nghiêm Phật Quốc” hay sao? Vì vậy theo tôi, cái gì thiếu quy củ, thiếu điều độ, thiếu nghiêm chỉnh, thiếu mực thước đều là buông lung phóng dật, nên chúng hoàn toàn không có mặt trong thế giới thiền.
Sư nói: 
- Các anh đều đúng, nhưng đó là những cảnh giới lý tưởng nhất trong ý niệm của mỗi người, chứ thiền làm gì có cảnh giới mà nhì với nhất! 


NGỰA HAY KHÔNG CẦN ROI 

Một nhà triết học hỏi Phật : 
-Bạch đức Thế Tôn, làm thế nào mình có thể nói được về thực tại tối hậu, về chân lý tuyệt đối, mà mình không sử dụng hai danh từ có và không (being và non-being)? 
Nghe xong Phật ngồi im lặng, không nói gì hết, và ngồi im lâu thật là lâu. Cuối cùng ông đó đứng dậy, xá Phật ba cái thật sâu rồi từ giã ra về. 
Thầy A Nan ngạc nhiên hỏi: 
-Bạch đức Thế Tôn, sao đức Thế Tôn chẳng nói gì hết mà ông ta lại tỏ lòng kính phục đức Thế Tôn một cách sâu sắc như vậy? 
Phật mới nói rằng: 
-Này A Nan! Đối với những con ngựa hay, con ngựa giỏi thì mình không cần tới cái roi. 

Thiền thoại hay giai thoại thiền có thể dịch tiếng Pháp là Un sable de conversation, hay tiếng Anh là A piece of conversation. Đây là những mẫu chuyện nho nhỏ (có thật hoặc không) của các vị thiền sư được ghi chép lại để người tu tập khai mở tâm trí. Những mẫu chuyện nầy thường rất khó hiểu, Truyện Thiền xin trích sau đây một số thiền thoại phổ thông và dễ hiểu .

TIẾNG THỊ PHI 

Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu. 


NGÀI CÓ ĐIẾC KHỔNG 

Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi. 


ĐẠI ĐẠO 

Một hành giả hỏi lão hòa thượng: “Trước khi đắc Đạo, ngài làm gì? 〞
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả hỏi: “Vậy đắc Đạo rồi thì sao?”
Lão hòa thượng: “Đốn củi, gánh nước, nấu cơm”.
Hành giả lại hỏi: “Vậy thế thì có gì khác với lúc chưa đắc Đạo?”
Lão hòa thượng: “Trước khi đắc đạo, khi đốn củi thì lo lắng đến gánh nước, lúc gánh nước lại nghĩ chuyện nấu cơm; đắc Đạo rồi, đốn củi thì cứ đốn củi, gánh nước thì là gánh nước, nấu cơm thì cứ nấu cơm”.
Đại Đạo chí giản chí dị, tâm giản dị chính là Đạo. 


NHẶT LÁ RỤNG TRONG TÂM 

Sư Đỉnh Châu và một vị sư ngồi đọc kinh ở sân chùa, đột nhiên một trận gió thổi đến, lá trên cây rụng xuống khá nhiều. Đỉnh Châu liền khom lưng nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong đãy. Vị sư bên cạnh thấy vậy bèn nói:
– Không cần nhặt đâu, dù sao sáng ngày mai chúng ta cũng phải quét mà!
Đỉnh Châu không cho là như vậy nên nói:
– Không thể nói như vậy, tôi nhặt thêm một lá, sân sẽ sạch thêm một chút.
Vị sư lại nói:
– Lá rụng nhiều như thế, nhặt phía trước nó lại rụng phía sau, làm sao mà nhặt hết được?
Sư Đỉnh Châu vừa nhặt vừa nói:
– Không sạch lá rụng ở trên mặt đất nhưng với lá rụng trong tâm thì cũng có lúc tôi nhặt sạch. 


TÓC BẠC TÂM CHẲNG BẠC 

Năm 17 tuổi, ngài Ưu Ba Cúc Đa xin tổ Thương Na Hòa Tu cho xuất gia. Tổ hỏi:
- Ngươi được bao nhiêu tuổi?
Ngài Ưu Ba Cúc Đa thưa:
- Bạch Thầy! Con được 17 tuổi.
- Thân ngươi 17 tuổi, hay tánh ngươi 17 tuổi?
Ngài Ưu Ba Cúc Đa hỏi lại:
- Đầu Thầy có tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc?
Tổ đáp:
- Tóc ta bạc, chứ tâm ta chẳng bạc.
- Con cũng thế. Thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi. 


DỤNG CÔNG 

Luật sư Nguyên đến hỏi thiền sư Huệ Hải:
- Hòa Thượng tu có dụng công chăng?
Thiền sư Huệ Hải đáp:
- Có dụng công.
- Dụng công như thế nào?
- Khi đói thì ăn, còn mệt thì ngủ.
- Tất cả mọi người đều như vậy. Thế thì họ có đồng chỗ dụng công của Hòa Thượng chăng?
- Chẳng đồng.
- Tại sao chẳng đồng?
- Khi ăn thì họ chẳng chịu ăn. Khi đói thì họ đòi trăm món thức ăn. Khi ngủ họ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện. Do đó chẳng đồng. 


ĐÀN VỊT TRỜI 

Một hôm, Bá Trượng Hoài Hải đi hầu sau Mã Tổ Đạo Nhất. Thấy một bầy vịt trời bay ngang qua đầu, Mã Tổ hỏi Bá Trượng:
- Đó là cái gì?
Bá Trượng thưa:
- Đàn vịt trời.
- Bay đi đâu?
- Bay ngang qua.
Mã Tổ bèn nắm lô mũi Bá Trượng kéo mạnh, khiến Bá Trượng kêu thất thanh. Mã Tổ bảo:
- Lại nói bay qua đi.
Bá Trượng hỏi:
- Sao lại không cho nói như vậy?
- Ngươi sống là sống với từng hơi thở qua lỗ mũi của mình, chứ đừng hướng nhìn đàn vịt trời bên ngoài. Ngươi có biết như vậy không? 


BẮT HƯ KHÔNG 

Ngày nọ, thiền sư Huệ Tạng cùng thiền sư Trí Tạng đi dạo chơi. Thiền sư Huệ Tạng hỏi Trí Tạng:
- Sư đệ biết cách bắt hư không chăng?
Trí Tạng đáp:
- Biết.
- Làm sao bắt được?
Trí Tạng quơ tay chụp lấy hư không. Thiền sư Huệ Tạng bảo:
- Làm như thế ấy, đâu có thể bắt được hư không!
Trí Tạng hỏi:
- Sư Huynh làm sao bắt được?
Thiền sư Huệ Tạng liền nắm mũi Trí Tạng kéo mạnh. Trí Tạng đau quá, la lên:
- Giết chết lổ mũi người ta! Buông ra ngay!
Thiền sư Huệ Tạng bảo:
- Không khí là mạch sống của con người ngay trên đầu mũi. Ngươi phải làm như thế mới bắt được hư không. 


MẤT MỚI THẤY QUÝ 

Thiền sư Nhật Bản Sư Lương Khoan có hôm đang trên đường về chùa. Ông móc trong đãi ra một đồng tiền rồi ném xuống đất, rồi cúi lượm. Lập đi, lập lại cử chỉ ấy mấy lần, rồi ông lẩm bẩm: "Mấy đứa trẻ bảo lượm được tiền khoái lắm! Thế mà có khoái gì đâu?" Vừa nói ông vừa tiếp tục ném tiền. Lần này ném hơi mạnh, đồng tiền trúng đá văng đâu mất. Ông vừa kiếm vừa nói: "Chà, thế này thì bực thật!" Tìm hồi lâu, may sao gặp được, ông mừng rỡ xác nhận: "Lượm được tiền khoái thật!".
Có người hỏi : "Ông mê tiền lắm sao?"
Lương Khoan trả lời: "Không ! Nhưng thông thường cái gì hiện có đầy đủ quá, chúng ta xem thường nó, đến khi bị mất mát mới thấy quý giá và hối tiếc." 


CÓ NIẾT BÀN CHĂNG ? 

Một hôm có người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật:
- Này Ngài Cù Đàm! Giáo lý của Ngài có Niết bàn không? Nếu có, thì có ai chứng được Niết bàn chưa?
- Giáo lý của ta có Niết bàn và có người đã chứng được Niết bàn.
- Vậy Ngài Cù Đàm chứng chưa?
- Ta đã chứng được.
- Nếu giáo lý của Ngài có Niết bàn và Ngài đã chứng Niết bàn. Vậy tất cả đệ tử Ngài có được Niết bàn hết chăng?
- Đệ tử của ta, có người chứng được Niết bàn, có người không chứng được Niết bàn.
- Giáo lý ngài có Niết bàn thì tại sao Ngài dạy đệ tử có người chứng, có người không chứng?
- Ở đây gần thành Vương Xá, vậy ông có biết thành Vương Xá không?
- Dạ biết
- Ông có rành đường đến thành Vương Xá không?
- Dạ rành.
- Nếu có người hỏi đường để đến thành Vương Xá. Ông chỉ dẫn tường tận mà người đó không đi tới là lỗi tại ai?
- Dĩ nhiên là lỗi tại người đi. Nếu người đó đi theo đúng như lời tôi chỉ thì chắc chắn sẽ tới.
Bây giờ Đức Phật mới kết luận rằng:
- Ta cũng vậy, giáo lý của ta có Niết bàn và ta cũng đã đạt Niết bàn. Nhưng ta dạy đệ tử nếu ai y theo lời ta dạy mà tu thì đạt tới Niết bàn, bằng không thì không đạt được. Vậy không có Niết bàn đâu phải là lỗi tại ta. 


CHÚ TIỂU VÀ VỊ LẠT MA 

Có một chú tiểu rất thông minh đến gặp một vị Lạt ma và nói rằng: 
- Trời ơi Ngài nổi tiếng lắm, đi đâu con cũng nghe danh ngài.
Được khen vị Lạt ma liền hướng vô bên trong và kêu: 
- Này thị giả, hãy mang kẹo ra cho chú tiểu.
Chú tiểu nói tiếp:
- Ngài làm như vậy, sao mà giống như Phật dạy quá! 
Vị Lạt ma lại gọi: 
- Thị giả, mang thức ăn ngon ra cho chú tiểu. 
Chú tiểu khôn ngoan đó lại nói tiếp: 
- Chính Ngài là Đức Phật tại thế.
Vị Lạt ma lại gọi vào trong:
- Hãy mang thêm 3 đồng tiền vàng cho chú. 
Chú tiểu nghĩ rằng như vậy là đủ rồi và đứng chờ nhận quà.
Chờ mãi mà không thấy ai ra,chú hỏi vị Lạt ma sao thị giả của Ngài chưa đem kẹo, thức ăn và vàng ra. 
Vị Lạt ma nói: 
- Tại sao ta phải cho con kẹo, thức ăn, vàng thật chớ? Con chỉ cho ta những lời nói trống rỗng. Ta cũng cho lại con những lời nói trống rỗng. 


NƯỚC MẮT THIỀN SƯ 

Một hôm, thiền sư Không Dã ra ngoài hoằng pháp, đi qua con đường núi đột nhiên gặp đám giặc cướp, tay cầm gươm đao đòi tiền mãi lộ. 
Thiền sư thấy chúng bất giác rơi lệ. Bọn cướp thấy sư khóc, cười lớn :
- Đồ nhát gan !
Thiền sư Không Dã nói :
- Ta đã vượt qua sanh tử, không phải sợ các ông mà khóc. Ta chỉ thương các ông trẻ tuổi sức mạnh mà không làm việc xã hội, không phục vụ mọi người, hàng ngày ở đây phá nhà cướp của, ta nghĩ đến tội lỗi của các ông sẽ bị pháp luật truy nã, xã hội không dung tha, tương lai còn đọa vào địa ngục chịu khổ tam đồ. Vì thấy sự nguy cấp của các ông mà ta khóc. 


PHẬT PHÁP KHÔNG HAI THỨ 

Một hôm, Hàn Dũ đến tham vấn thiền sư Đại Điên Bảo Thông, hỏi: 
- Thiền sư bao nhiêu tuổi ?
Bảo Thông giơ xâu chuỗi cầm trong tay, hỏi :
- Hiểu chăng ?
Hàn Dũ đáp :
- Không.
Bảo Thông bổ sung một câu :
- Ngày đêm trăm lẻ tám.
Hàn Dũ không hiểu ý thế nào, đành im lặng ra về.
Hôm sau Hàn Dũ đến hỏi Thủ tọa: 
- Hôm qua thiền sư Bảo Thông nói như thế, ý thế nào ?
Thủ tọa nghe xong, liền vỗ răng ba cái. Hàn Dũ càng mờ mịt không hiểu.
Hàn Dũ đến pháp đường gặp thiền sư Bảo Thông hỏi lại :
- Thiền sư bao nhiêu tuổi ?
Bảo Thông cũng vỗ răng ba cái.
Hàn Dũ bỗng dưng liễu ngộ, nói :
- Té ra Phật pháp không hai thứ.
Bảo Thông hỏi :
- Vì sao ? 
- Vừa rồi Thủ tọa cũng hành động như thiền sư.
- Đạo Phật, đạo Nho không hai thứ, ta và ông cũng là một thôi. 


LÀM SAO LÃNH HỘI ĐƯỢC 

Thiền sư Vân Môn sau khi khai ngộ nơi Mục Châu Trần Tôn Túc, bèn ra ngoài du phương. Tại Giang Châu, gặp viên quan Thượng thư Trần Tháo, Trần Thượng thư cũng là học giả nhà thiền, vừa gặp Vân Môn ông liền thử nghiệm hỏi : 
- Thế nào là việc hành cước của thiền tăng ?
Vân Môn không đáp, hỏi ngược lại :
- Ông hỏi câu này mấy người rồi ?
- Tôi hỏi mấy người mặc kệ, bây giờ xin hỏi ngài ?
- Thế nào là tam tạng kinh điển một đời Như Lai ?
- Quyển vàng trục đỏ.
- Đó là giấy mực văn tự, không phải chân nghĩa Phật pháp. Mời ông nói lại, thế nào là giáo nghĩa ?
- Miệng muốn nói mà không có lời, tâm muốn duyên mà không có nghĩ.
- Miệng muốn nói mà không có lời, đó là đối có lời ; tâm muốn duyên mà không có nghĩ, đó là đối vọng tưởng. Mời ông nói lại, thế nào là giáo nghĩa ?
Thượng thư không đáp được, Vân Môn lại hỏi :
- Thượng thư thường đọc kinh Pháp Hoa phải không ?
- Phải
- Trong kinh nói : “Tất cả nghề nghiệp đều không trái thật tướng ?”. Xin hỏi trời phi phi tưởng có mấy người thoái vị ?
Thượng thư mờ mịt không biết đáp thế nào.
Vân Môn nói :
- Tôi xem qua mười kinh năm luận, sau đó bỏ hết vào tùng lâm tu hành, trải qua mười năm, hai mươi năm còn chưa được đại ngộ, Thượng thư chỉ xem mấy quyển làm sao lãnh hội được ?


CHÁNH ĐIỆN KHÔNG CÓ PHẬT 

Thiền sư Vô Nghiệp ở Phần Châu - Thiểm Tây, ban đầu tham vấn thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, nhân tướng mạo to lớn, âm thanh như hồng chung, Mã Tổ vừa thấy liền cười sư rằng :
- Chánh điện to lớn mà không có Phật.
Vô Nghiệp liền làm lễ, cung kính thưa :
- Văn học ba thừa con tin được chút ít, nhưng nhà thiền nói tức tâm tức Phật con không hiểu nổi.
Mã Tổ thấy ý sư chân thành bèn khai thị :
- Chính cái không hiểu đó tức là tâm chứ không có gì khác ; khi chưa hiểu tức là mê, hiểu tức là ngộ ; mê tức là chúng sanh, ngộ tức là Phật.
Vô Nghiệp hỏi :
- Ngoài tâm, Phật, chúng sanh ra còn có Phật pháp chăng ?
Mã Tổ đáp :
- Tâm Phật, chúng sanh chỉ là một, Phật pháp cũng như thế, như bàn tay nắm tay.
Vô Nghiệp hỏi :
- Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
Mã Tổ đáp :
- Hiện giờ có ý Tổ sư không ? Hãy đi, khi khác sẽ đến.
Vô Nghiệp từ giã ra đi, Mã Tổ theo sau gọi :
- Đại đức !
Vô Nghiệp xoay đầu lại. Mã Tổ bảo :
- Là cái gì ?
Ngay đó, Vô Nghiệp quỳ xuống lễ bái, khóc :
- Con tưởng Phật pháp xa xôi, bây giờ mới biết thật tướng pháp thân ở ngay chính mình.
Mã Tổ nói :
- Kẻ ngu này ngộ rồi. 


TÂM PHẬT LÀ GÌ 

Có lần, thiền sư Huệ Trung hỏi Tử Lân Cung Phụng : 
- Cung Phụng học Phật pháp nhiều năm, Phật nghĩa là gì ?
Tử Lân không cần suy nghĩ đáp :
- Phật nghĩa là giác ngộ.
Thiền sư Huệ Trung tiến một bước, hỏi :
- Phật có mê không ?
Tử Lân không cho là đúng, nhẫn nại hỏi ngược lại thiền sư Huệ Trung :
- Đã thành Phật, sao còn mê ?
Thiền sư Huệ Trung hỏi ngược lại :
- Nếu không còn mê, giác ngộ làm gì ? 


LẬT THUYỀN SANH TỬ 

Có vị học tăng đến tham bái thiền sư Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi : 
- Từ đâu đến ?
Học tăng đáp :
- Từ thiền sư Phú Thuyền (Lật Thuyền) đến.
Tuyết Phong cố ý hỏi :
- Biển sanh tử không có bờ qua, vì sao ông muốn lật thuyền ?
Học tăng không hiểu ý Tuyết Phong liền từ giã ra về. Học tăng kể lại cho thiền sư Phú Thuyền nghe. Thiền sư Phú Thuyền nói :
- Ông thật ngu ngốc, tại sao không nói rằng con đã vượt biển khổ sanh tử nên mới lật thuyền.
Học tăng bèn trở lại Tuyết Phong. Tuyết Phong lại hỏi : 
- Đã lật thuyền, còn đến đây làm gì ?
Học tăng thưa :
- Con đã vượt khỏi biển sinh tử nên mới lật thuyền.
Tuyết Phong nghe xong, nói :
- Câu này chẳng phải của ông, do thầy ông dạy, ta gởi hai mươi gậy cho lão sư Phú Thuyền và nói rằng hãy giữ hai mươi gậy này mà ăn, còn ta với ông không quan hệ gì cả. 


THIỀN KHÔNG PHẢI VẤN ĐÁP 

Có một thiền sư viết hai câu cho đệ tử tham cứu. Hai câu ấy như sau:
- Hai người dầm mưa đi, vì sao một người không ướt ?
Các đệ tử lần lượt bàn luận.
Vị thứ nhất nói : “Hai người đi trong mưa, có một người không ướt là vì người ấy mặc áo mưa”.
Vị thứ hai nói : “Người không ướt có gì lạ đâu, vì trận mưa cục bộ – một bên mưa, một bên không mưa”.
Vị thứ ba đắc ý nói : “Huynh sai rồi, trận mưa dầm dề làm gì có chuyện cục bộ ? Sở dĩ người không ướt là vì người ấy vào nhà đụt mưa”.
Mỗi vị một câu, dường như vị nào cũng có lý, nhưng chưa đúng ý thiền sư.
Sau cùng, thiền sư nói :
- Các ông chấp vào câu “Một người không ướt”, mà tranh luận mãi không thôi. Bởi tranh luận cho nên cách xa chân lý. Kỳ thật, người không ướt không ngoài hai người đang đi trong mưa. 


CUỘC SỐNG TÙY DUYÊN 

Ngày tam phục – mùa mà cái nóng oi bức nhất trong năm, cả vườn cỏ của thiền viện đã trở thành một thảm cỏ khô vàng.
Chú tiểu nói.: “Phát dọn cho sạch sẽ đám cỏ này đi, thế này thì thật là khó coi quá!” 
Sư phụ vẫy vẫy tay: “Đợi trời mát đã" "Tùy thời”. 
Trung thu, Sư phụ lại mua về một bao hạt cỏ giống, gọi chú tiểu đem bao hạt giống này đi gieo. Gió mùa thu trỗi lên và cuốn đi những hạt giống vừa gieo.
Chú tiểu kêu la: “Không xong rồi! Các hạt giống bị gió thổi bay đi cả rồi”
Sư phụ nói:“Thôi đi con, không sao đâu, hạt giống vẫn còn rất nhiều, gió cuốn đi cũng không mọc được.” “Tùy tính”. 
Sau khi cơn gió đã lấy đi những hạt giống, tiếp theo lại có mấy chú chim đáp xuống mổ ăn.
Chú tiểu vừa nhảy vừa la: “Chết rồi! Hạt cỏ giống lại bị chim ăn hết rồi!”
Sư phụ nói: “Không sao! Hạt giống còn nhiều, ăn không hết đâu!” “Tùy ngộ”. 
Nữa đêm lại bị một trận mưa dữ dội. Vừa mờ sáng chú tiểu vội vã chạy vào phòng thầy: “Sư phụ, lần này thì xong thật rồi! Những hạt giống bị mưa cuốn trôi hết rồi” 
Sư phụ nói: “Trôi đến đâu, thì nó sẽ mọc ở đó.” “Tùy duyên”.
Hơn nữa tháng sau, một vùng đất trơ trụi lúc trước giờ lại mọc lên những mầm cỏ non xanh biên biết, có một số ngốc ngách không hề gieo trồng nhưng vẫn mọc lên xanh rờn. Chú tiểu vỗ tay và vô cùng vui sướng. 
Sư phụ gật gật đầu: “Tùy hỷ”. 


MỘT ĐỐNG CỦI 

Thiền sư Hy Thiên Thạch Đầu trụ ở Hồ Nam, có lần hỏi một vị học tăng mới đến tham học :
- Ông từ đâu đến ?
Học tăng thưa :
- Giang Tây.
- Có thấy Mã Đại Sư chăng ?
- Thấy.
Hy Thiên dùng tay chỉ một đống củi hỏi :
- Thiền sư Mã Tổ giống đống củi không ?
Học tăng không đáp được.
Vì ở chỗ thiền sư Thạch Đầu không khế hợp, nên trở lại Giang Tây tham kiến thiền sư Mã Tổ, và kể lại việc ấy cho Mã Tổ nghe. Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất nghe xong, ung dung cười mỉm, hỏi học tăng:
- Ông xem đống củi kia nặng bao nhiêu ?
- Con chưa lường kỹ .
- Ông có sức quá lớn.
- Vì sao ?
- Ông từ Nam Nhạc vác một đống củi đến đây, há chẳng có sức sao? 


NGHE 

Có lần tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm luận đạo với thiền sư Vô Trụ ở sau tự viện, có con quạ đậu trên cây trước sân kêu.
Thiền sư Vô Trụ hỏi tướng quốc : “Có nghe tiếng quạ kêu không ?”. Tướng quốc đáp : “Nghe”.
Bỗng dưng con quạ bay đi, thiền sư Vô Trụ lại hỏi tướng quốc : “Có nghe tiếng quạ kêu không ?”. Tướng quốc đáp : “Không”. 
Thiền sư Vô Trụ nói :
- Hiện bây giờ ta vẫn nghe tiếng quạ kêu.
Tướng quốc nghe xong, kinh ngạc, hỏi :
- Quạ đã bay đi rồi, không còn tiếng kêu, vì sao thầy nói vẫn nghe tiếng quạ kêu ?
Thiền sư Vô trụ giải thích :
- Có nghe không nghe, không quan hệ gì tánh nghe, xưa nay không sanh, đâu từng có diệt ? Khi có tiếng, thì thanh trần tự sanh, khi không tiếng thì thanh trần tự diệt nhưng tánh nghe này không theo tiếng mà sanh, không theo tiếng mà diệt. Ngộ được tánh nghe này thì không bị thanh trần chuyển. Nên biết rằng tiếng là vô thường, nghe không có sanh diệt, cho nên quạ có đến đi còn tánh nghe của chúng ta không có đến đi. 


KHÓA TRÌNH CẦN PHẢI TU 

Học tăng Nguyên Trì tham học trong pháp hội thiền sư Vô Đức, tuy siêng năng dụng công mà rốt cuộc đối với thiền pháp không cách gì thể ngộ. Cho nên, có lần giờ tham vấn buổi chiều, Nguyên Trì xin thiền sư Vô Đức đặc biệt chỉ dạy : 
- Đệ tử vào tùng lâm đã nhiều năm, mà vẫn mờ mịt không biết gì cả, luống thọ sự cúng dường của tín thí, ngày qua ngày mà không ngộ, xin thầy từ bi chỉ dạy, mỗi ngày ngoài việc tu trì ra, còn có khóa trình nào cần phải tu thêm không ?
Thiền sư Vô Đức đáp :
- Điều tốt nhất ông hãy trông coi hai con kên kên, hai con nai, hai con nhạn và cột một con trùng trong miệng, đồng thời chiến đấu liên tục với một con gấu và chăm sóc một bệnh nhân. Nếu làm được như thế và tận tình trong nhiệm vụ của mình, ta tin rằng đối với ông có sự trợ giúp rất tốt.
Nguyên Trì không hiểu, thưa :
- Bạch thầy ! Con chỉ có một mình đến đây tham học, bên thân con hoàn toàn không mang theo con vật nào cả, làm sao trông coi ? Vả lại, con nghĩ rằng những động vật ấy đâu có dính dáng gì với khóa trình cần phải tu.
Thiền sư Vô Đức cười, nói :
- Ta nói hai con kên kên, đó là ông thường phải cảnh giác hai con mắt mình – phi lễ chớ nhìn; hai con nai, là ông cần phải giữ gìn hai chân mình, đừng để nó chạy theo đường tội ác – phi lễ chớ làm; hai con nhạn, là hai tay ông phải thường làm công tác, tận tình trong trách nhiệm của mình – phi lễ chớ động; một con trùng là cái lưỡi của ông phải cột chặt lại – phi lễ chớ nói; một con gấu, là tâm ông, ông phải khắc chế cá nhân riêng tư của mình – phi lễ chớ tưởng; người bệnh là chỉ cho thân ông, hy vọng ông đừng để nó vào tội ác. Ta mong rằng trên đường tu đạo, những khóa trình cần phải tu đó không thể thiếu được. 


TÂM YẾU CỦA THIỄN 

Đại thi nhân Bạch Cư Dị có lần hỏi thiền sư Duy Khoan : 
- Thân khẩu ý làm sao tu hành mỗi cái?
Duy Khoan đáp:
- Vô thượng Bồ-đề mặc nơi thân là luật, nói nơi miệng là pháp, hành nơi tâm là thiền. Ứng dụng thì có ba, nhưng chỉ là một thể. Như sông Hoài sông Hán, tuy tên khác nhau mà tánh nước chỉ là một. Luật tức là pháp, pháp không lìa thiền, hợp thân khẩu ý thành một mà tu, thân khẩu ý đều do tâm đặt tên, cớ sao ở trong đó khởi tâm phân biệt?
- Nếu không phân biệt, làm sao tu tâm?
- Tâm vốn không thương tổn, vì sao phải tu? Nên biết rằng không luận là dơ hay sạch, tất cả đều không được khởi niệm.
- Dơ, có thể lau chùi, không được khởi niệm; sạch, không khởi niệm được chăng?
- Như tròng mắt không thể dính vật, mạt vàng tuy quý, rơi vào mắt cũng xốn như thường; mây đen che bầu trời, mây trắng cũng như thế.
- Không tu, không nghĩ thì đâu khác phàm phu.
- Phàm phu ở mãi trong vô minh, Nhị thừa thường chấp trước, lìa hai bệnh vô minh và chấp trước này, đó là chân tu. Người chân tu không được tinh tấn cũng không quên lãng. Tinh tấn kẹt vào chấp trước, quên lãng rơi vào vô minh. Đó là tâm yếu vậy. 


ĐÁNH XE HAY ĐÁNH TRÂU 

Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng lúc trụ trì chùa Bát Nhã, phát hiện vào buổi chiều có một thanh niên ngồi thiền tại Đại Hùng bảo điện, xem dáng vẻ rất có huệ căn, do đó quan tâm hỏi : 
- Ông ngồi đây làm gì ?
Thanh niên không vui khi có người quấy nhiễu, miễn cưỡng đáp :
- Ngồi thiền !
Thiền sư Hoài Nhượng hỏi lại :
- Vì sao phải ngồi thiền ?
Thanh niên rất bực bội, nhưng vẫn đáp :
- Thành Phật !
Hoài Nhượng lại hỏi :
- Ngồi thiền làm sao thành Phật được ?
Thanh niên không đáp nữa, dường như chán Hòa thượng này quá lải nhải.
Bất đắc dĩ, thiền sư Hoài Nhượng đem một cục gạch đến bên cạnh thanh niên mài mỗi ngày. Qua mấy ngày, thanh niên lấy làm lạ hỏi :
- Hàng ngày thầy ở đây làm gì ?
- Mài gạch !
- Mài gạch để làm gì ?
- Làm gương.
- Gạch làm sao thành gương được ?
- Nếu gạch không thành gương được, vậy ông ngồi thiền làm sao thành Phật được ?
Thanh niên kinh ngạc. Một câu nói bình thường như thế, khiến cho kiêu khí của ông ta tiêu tan, lập tức đứng dậy cung kính đảnh lễ, hỏi :
- Như thế làm sao mới đúng ?
Thiền sư Hoài Nhượng hiền hòa đáp :
- Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh trâu hay đánh xe ?
Thanh niên nghe xong, quỳ xuống lễ bái, thưa :
- Phải dụng tâm thế nào mới đạt được cảnh giới vô tướng Tam-muội ?
Thiền sư Hoài Nhượng đáp :
- Học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta giảng giải pháp yếu cho ông như mưa nước cam lồ, chỉ đợi nhân duyên hòa hợp liền thấy được đạo.
Ngay lời nói này thanh niên đại ngộ, ông chính là thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, tông sư một đời trong thiền môn. 


THONG DONG NHẬP THIỀN 

Có một vị đệ tử trong chùa đêm ngày nỗ lực tham thiền, liền đến trước Sư phụ thỉnh giáo làm thế nào mới ngộ thiền. Sư phụ giao cho đệ tử một cái hồ lô và một nắm muối thô, nói: “Con hãy múc nước đầy vào, sau đó đem muối bỏ vào để nó mau tan ra”.
Đệ tử làm theo, một lúc lâu, ông ta đổ mồ hôi ôm hồ lô chạy về nói: 
“Nước quá đầy, lắc không được, miệng hồ lô quá nhỏ, không có cách gì thò vào để quậy cho muối mau tan?”.
Sư phụ nói:
“Đổ một ít nước thì lắc được”. 
Thế là đệ tử đổ đi một ít nước, chỉ cần lắc một lát là muối liền tan hết.
Sư phụ nói:
“Dụng công là tốt, nhưng tham thiền cũng phải thong dong. Nếu không thì cũng giống như hồ lô đựng đầy nước không thể lắc hay quậy thì muối chẳng thể hòa tan” 


ĐỌC KINH GIỐNG NHƯ KHÓC 

Thiền sư Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch lúc còn làm tiểu Hòa thượng, từng ở nơi Hòa thượng Nhũ Nguyên Thiều Châu tu hành. Ông có cái tật là mỗi lần đọc kinh thì âm giọng thật to, tuy ở khoảng cách rất xa nhưng đều có thể nghe rõ ràng.
Một hôm Ngưỡng Sơn lại to tiếng đọc kinh, bị Hòa thượng Nhũ Nguyên từ xa nghe được, Hòa thượng Nhũ Nguyên liền đi đến để trách ông: 
“Thằng Hòa thượng con này đọc kinh gì mà giống như khóc vậy?”.
Ngưỡng Sơn lên mặt đáp:
“Con đọc kinh giống khóc, còn Hòa thượng thì thế nào?”.
Hòa thượng Nhũ Nguyên quay đầu, mắt nhìn thẳng Sa di.
Ngưỡng Sơn lớn tiếng hỏi trở lại: “Nếu như thế thì có khác với khóc không? Nói cười giận mắng, đi đứng ngồi nằm, tất cả không phải là thiền sao?”.
Hòa thượng đành thôi. 


KHÔNG SỢ QUỈ 

Nghe nói Thiền sư Huệ Khôi có lần ngồi thiền trong động, thì có một con quỉ không đầu đi đến. Nếu như người thường thấy thì nhất định sẽ sợ hồn quỉ nhập vào thân, nhưng Thiền sư Huệ Khôi vẫn không thay đổi sắc mặt, nói với quỉ không đầu rằng:
“Ngươi vốn là quỉ không đầu, cho nên không biết nhức đầu, thật là cảm thấy dễ chịu”
Quỉ không đầu sau khi nghe xong liền biến mất.
Lại có lần trong động của Thiền sư Huệ Khôi xuất hiện một con quỉ không có mình mà lại có tay chân, Thiền sư Huệ Khôi nói với quỉ không mình rằng:
“Ngươi không có mình cho nên không biết cái đau về ngũ tạng lục phủ, đây thật là hạnh phúc”. 
Quỉ không đầu khi nghe xong đột nhiên biến mất.
Lại có con quỉ không miệng xuất hiện tới trước mặt, Thiền sư Huệ Khôi nói: 
“Không có miệng thì tốt lắm, tránh được tội nghiệp ác khẩu hai lưỡi”.
Quỉ không có mắt hiện ở trước mặt, Thiền sư Huệ Khôi nói:
“Ngươi không có mắt thì rất tốt, tránh được tâm phiền não khi nhìn”.
Quỉ không tay xuất hiện, Thiền sư Huệ Khôi liền nói: 
“Ngươi không có tay thì rất tốt, tránh được tội trộm cắp đánh người…”
Ít lâu sau những hồn quỉ không còn xuất hiện đến trước Thiền sư Huệ Khôi nữa. 


NGƯƠI TỪ ĐÂU ĐẾN? 

Thiền sư Huệ Năng khi mới tham kiến ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”.
Huệ Năng đáp: “Con từ Lãnh Nam đến”.
Hoằng Nhẫn nói: “Lãnh Nam là nơi mọi rợ Cát Lão, hễ là rợ Cát Lão thì không có Phật tánh”.
Huệ Năng trả lời: “Bạch Hòa thượng! Người thì có phân chia Nam Bắc chứ Phật tánh thì không có phân chia Nam Bắc”.
Đại sư Thần Hội nương gần Lục tổ Huệ Năng, Lục tổ hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”.
Thần Hội đáp: “Con không từ đâu đến”.
Thiền sư Tuệ Trung ở Nam Dương đến tham kiến Lục tổ, Lục tổ hỏi: “Ngươi từ đâu đến?”
Thiền sư Tuệ Trung đáp: “Con ở chỗ gần đây đến”. 


BAY CHẲNG KHỎI HƯ KHÔNG 

Học tăng Đạo Tụ hạ thủ công phu tu trì nhưng không giác ngộ bèn tỏ ra thất vọng, đến Sư phụ là Thiền sư Quảng Ngữ xin từ giã ra đi.
Thiền sư Quảng Ngữ kinh ngạc hỏi:
 “Làm gì không có sự giác ngộ mà liền bỏ đi ư? Bỏ nơi đây mà đến chỗ khác thì được giác ngộ ?”. 
Đạo Tụ thành khẩn nói:
“Con mỗi ngày ngoài việc ăn cơm ngủ nghỉ ra thì đều dụng công tu trì, ngoài việc tu thiền ra thì đều không có chú tâm đến việc khác, vậy mà thấy đạo hữu cùng tham thiền với con thì mỗi ngày đều có tiến bộ. Thiết nghĩ, con là ông Tăng tu hành khổ hạnh lẽ ra phải tiến bộ nhiều hơn”. 
Thiền sư Quảng Ngữ nói: 
“Ngộ là một sự khơi bày bản tánh, cội nguồn của sự giác ngộ thì không có phương pháp nào hình dung được và cũng không có phương pháp nào dạy cho người khác. Người ta có cảnh giới của người ta, con tu thiền đạo của con, cần gì phải nói bàn cho lộn xộn ư?”. 
Đạo Tụ cảm than: 
“Chao ôi! Con so với các huynh đệ cũng giống như chim sẻ nhỏ so với chim đại bàng!”.
Thiền sư Quảng Ngữ giả bộ không hiểu: 
“Cái gì lớn? Cái gì nhỏ?”.
Đạo Tụ nói:
“Chim đại bàng cất cánh là đã bay xa hơn trăm dặm, trong khi đó chim sẻ bé nhỏ bay không quá vài trượng”.
Thiền sư Quảng Ngữ hỏi : 
“Chim đại bàng tuy cất cánh là có thể bay xa hơn trăm dặm, nhưng có thể bay ra khỏi sanh tử không?”. 


PHÒNG TRỐNG 

Tỳ kheo Na Tiên nói năng linh hoạt khéo léo, khiến cho vua Di Lan Đà rất là tôn kính. Một hôm vua Di Lan Đà đến trước mặt Tỳ kheo Na Tiên nói: “Con mắt, lỗ tai, lỗ mũi và cái lưỡi đều là của Thầy chăng?”.
Tỳ kheo Na Tiên cười đáp: “Đều không phải”.
Vua Di Lan Đà lại hỏi: “Thế thì chỉ có thân thể thôi sao, hay là ý mới thật là của Thầy?”.
Tỳ kheo Na Tiên cười đáp: “Đều không phải”.
Vua Di Lan Đà lại không hiểu: “Thế thì Thầy ở đâu?”.
Tỳ kheo Na Tiên mỉm cười hỏi lại: “Cửa sổ, cửa lớn, gạch, ngói, giường, ghế, cây cột đều là cái phòng chăng?”.
Vua Di Lan Đà im lặng giây lâu đáp: “Đều không phải”.
Tỳ kheo Na Tiên liền hỏi: “Thế thì cái phòng ở chỗ nào?”. 


KHÔNG ĐỂ THỜI GIAN TRÔI QUA VÔ ÍCH 

Thiền sư Ngưỡng Sơn sau một thời gian vân du trở về, liền đến thăm Thầy của ông là Thiền sư Quy Sơn.
Thiền sư Quy Sơn hỏi:
- Một thời gian không gặp, ông đã làm được những gì?
Ngưỡng Sơn trả lời:
- Con cày được một mảnh đất và gieo xuống đó được một hạt giống tốt
Ngài Quy Sơn khen:
- Nhìn lại việc này thì trước đây ông chưa từng để thời gian trôi qua một cách vô ích
Ngưỡng Sơn cũng hỏi lại thầy của mình như thế:
- Vậy thầy làm được những gì?
Ngài Quy Sơn nói không cần suy nghĩ:
- Ta ban ngày ăn cơm, buổi tối đi ngủ
Ngưỡng Sơn ca ngợi Thầy mình:
- Vậy Thầy đây cũng chưa từng để thời gian trôi qua vô ích 


BẢO CHÂU VÔ THUỢNG 

Một hôm, Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni cầm một trái châu tùy theo cảnh mà biến màu đưa cho các Thiên Vương ở năm phương xem và Ngài hỏi:
“Trái châu này có màu gì?”
Thiên Vương ở năm phương đều trả lời không giống nhau, có vị thì nói màu xanh, có vị nói màu vàng, có vị thì nói màu cam, có vị nói màu hồng, lại có vị nói màu trắng. Thế Tôn đem trái châu cất vào trong tay áo, rồi Ngài giơ tay ra hỏi: 
“Trái châu này màu gì?”
Các Thiên Vương đáp:
“Thế Tôn! Ngay cả trái châu trong tay Ngài còn không có thì làm sao mà biết màu gì?’.
Thế Tôn nói: 
“Các ngươi thật là điên đảo, ta đem trái châu thế tục cho các ngươi xem, vậy mà các ngươi đều nói màu xanh, vàng, cam, hồng không giống nhau. Bây giờ ta đem trái châu báu thật vô thượng cho các ngươi xem nhưng các ngươi nói không thấy”. 


SỐNG AN VUI 

Có ba vị tín đồ vẻ mặt đầy bồn rầu, đi thỉnh giáo Thiền sư Vô Đức làm thế nào mới khiến cho mình có được đời sống an vui.Thiền sư Vô Đức liền hỏi họ cần được những gì mới an vui.
Tín đồ Giáp nói: “Có tiền là có an vui”.
Tín đồ Ất nói: “Có tình yêu chơn chánh là có an vui”.
Tín đồ Bính thì cho rằng: “Có danh dự thì mới có an vui”.
Thiền sư nghe xong liền lắc đầu khuyên răn họ: “Các vị có hoài bảo như thế đương nhiên là không được chơn chánh an vui. Sự thật mà nói, ngay cả các ngươi sau khi có tiền, có tình yêu, có danh dự thì phiền não bao vây quấy nhiễu làm mê mờ rồi”.
Ba vị tín đồ không biết nói gì: “Thế thì chúng ta phải làm sao?”.
Thiền sư Vô Đức: “Biện pháp thì có, chỉ cần các vị trước phải thay đổi quan niệm. Vàng bạc bố thí giúp đỡ người mới có an vui, tình yêu cần hiến tặng mới có an vui, danh dự phải dùng để phục vụ mọi người, các vị mới thật sự được an vui”. 


TÌM MỘT CHỖ NGỒI 

Đại học sĩ Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn thường cùng nhau tham thiền luận đạo. Một hôm, Thiền sư đăng đàn thuyết pháp, khi Tô Đông Pha đến thì đã hết chỗ ngồi. Thiền sư từ xa trông thấy Tô Đông Pha đến, bỗng nói lớn:
- Mọi người đã ngồi hết chỗ, ở đây không còn chỗ cho ông ngồi đâu.
Tô Đông Pha nói:
- Nếu không còn chỗ ngồi, vậy cho tôi mượn thân tứ đại ngũ uẩn của thiền sư để làm chỗ ngồi.
- Ông quả quyết muốn lấy thân ta làm chỗ ngồi, nếu ngồi không được thì phải tháo ngọc đáy ngay thắc lưng để lại bổn tự. 
Tô Đông Pha đồng ý, Thiền sư nói:
- Bốn đại của ta vốn không, năm uẩn chẳng có, vậy học sĩ ông muốn ngồi chỗ nào? 
Tô Đông Pha tịch lời đành phải mở ngọc đái để lại rồi ra về. 


HẠT CẢI CHỨA NÚI TU DI 

Thứ sử Lý Bột ở Giang Tô sống vào triều nhà Đường, hỏi Thiền sư Trí Thường rằng:
“Trong kinh Phật có nói, núi Tu di chứa hạt cải, tôi không hoài nghi, còn chuyện hạt cải chứa cả núi Tu di, đâu chẳng phải là lời bàn hư dối ư?”.
Thiền sư Trí Thường nghe nói xong, Ngài cười hỏi:
“Mọi người đều đồn rằng, ông đọc sách hơn vạn quyển, việc này có đúng thế không?”
Lý Bột gật đầu nói:
“Thật không sai!”.
Thiền sư làm ra vẻ không hiểu và cật vấn rằng:
“Xem ra bộ óc của sứ quân lớn tương đương với cái sọ dừa, thế thì một vạn quyển sách nhét chỗ nào cho hết?”. 


KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN 

Có người hỏi Thiền sư Hưng Thiện Duy Khoan: “Con chó có Phật tánh không?”
Thiền sư đáp: “Có”
Người này lại hỏi: “Thế hòa thượng cũng có phải không?”.
Thiền sư đáp: “Ta không có”.
Người chất vấn nghi rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì sao chỉ riêng Hòa thượng không có?”. 
Thiền sư nói: “Ta không phải là chúng sanh”.
Người chất vấn tiếp tục hỏi: “Hòa thượng đã không phải là chúng sanh thì Ngài là Phật ư?”.
Thiền sư nói: “Ta cũng  không phải là Phật”.
Người chất vấn hỏi: “Thế thì cuối cùng Ngài là gì?”.
Thiền sư rất bình tĩnh nói: “Cũng không là gì cả”.
Người chất vấn hỏi: “Thế thì có thể xem thấy, có thể nghĩ bàn không?”.
Thiền sư khai thị: “Suy tư thì không thể đạt được, nghĩ bàn thì không nhận biết, cho nên gọi là không thể nghĩ bàn”. 


BÀN TAY VÔ SỰ 

Tướng quốc Bùi Hưu sống vào thời Đường. Từ khi theo Thiền sư Hoàng Bá, ông càng kính phục Thiền sư. Có lần ông đem việc tâm đắc khi tham thiền dùng văn tự để biên thành sách. Sau khi thành sách xong, ông rất cung kính đem trình lên Thiền sư Hoàng Bá mong rằng Thiền sư xem qua nội dung góp ý.
Thiền sư Hoàng Bá sau khi tiếp nhận xong, liền quăng trên bàn không nói năng gì, một hồi lâu lại hỏi: “Hiểu không?”.
Tể tướng Bùi Hưu thành thật đáp: “Không hiểu”.
Thiền sư Hoàng Bá liền khai thị: “Thiền là truyền ngoài giáo điển, không lập văn tự. Ông đem Phật pháp dùng văn tự để nêu bày thì làm mất đi chơn nghĩa của Phật pháp, cũng như mất đi tông phong của thiền môn, cho nên tôi mới không thèm xem”. 


TRÁI MAI SỐNG 

Thiền sư Đam Nguyên Sơn Ứng ở Kiết Châu vốn là vị Thị giả của Quốc sư Tuệ Trung ở Nam Dương. Có lần Thiền sư xách giỏ tre về đến phương trượng, Quốc sư hỏi: “Trong cái giỏ tre đựng vật gì?”.
Thiền sư đáp: “Là trái mai còn sống”.
Quốc sư hỏi: “Đem về làm gì?”.
Thiền sư nói: “Cúng dường chư Phật Bồ tát”.
Quốc sư lắc đầu nói: “Màu xanh rõ ràng hãy còn, làm sao có thể xách về cúng dường?”.
Thiền sư đáp: “Nói là cúng dường, nhưng thật ra là để bày tỏ lòng thành”.
Quốc sư nói: “Chư Phật, Bồ tát không nhận cúng dường”.
Thiền sư đáp: “Con thì chỉ biết làm như vậy, còn Hòa thượng thì sao?
Quốc sư nói: “Ta không cúng dường”.
Thiền sư hỏi ngược lại: “Sao Hòa thượng không cúng dường?”.
Quốc sư nói: “Ta không có trái”. 


TOÀN THÂN ĐỀU LÀ CON MẮT 

Có lần Thiền sư Đạo Ngô hỏi Vân Nham: “Quán Thế Âm Bồ tát có đến 1000 tay, 1000 mắt. Xin hỏi con mắt nào là mắt chánh?”
Vân Nham: “Giống như ngươi tối đi ngủ, lúc cái gối bị rớt xuống giường, ngươi không mở mắt ra, rồi thòng tay xuống đấy quơ một cái là tìm được. Lại có thể tiếp tục ngủ. Xin hỏi, ngươi dùng con mắt nào để tìm vậy?”.
Thiền sư Đạo Ngô sau khi nghe xong nói: “Ồ! Sư huynh tôi hiểu rồi”.
Vân Nham hỏi : “Ngươi hiểu gì?” 
Đạo Ngô đáp : “Khắp thân đều là con mắt”.
Thiền sư Vân Nham cười nói: “Ngươi chỉ hiểu được tám phần”.
Đạo Ngô nghi ngờ hỏi: “Thế thì phải nói thế nào?”. 
Thiền sư Vân Nham có chỗ nắm bắt: “Toàn thân đều là mắt” 


ĐƯỜNG ĐÁ TRƠN TRỢT 

Thiền sư Ẩn Phong từ biệt Mã Tổ Đạo Nhất ra đi, Ma Tổ nói: “Đi đến nơi nào?”.
Ẩn Phong đáp: “Đến Nam Nhạc Thạch Đầu Hi Thiên Thiền sư”.
Mã Tổ dặn dò rằng: “Đường đá trơn lắm nhe!”.
Ẩn Phong rất tự tin nói: “Có mang gậy theo thân, gặp việc cứ nô đùa”.
Mã Tổ chấp nhận lời từ biệt của Ẩn Phong, Ẩn Phong liền từ Giang Tây đến Hồ Nam để bái yết Thiền sư Thạch Đầu. Ẩn Phong vừa gặp Thiền sư Thạch Đầu, trước hết là đi quanh thiền sàng một vòng, sau rung tích trượng, hỏi: “Là tông chỉ gì?”.
Thiền sư Thạch Đầu gọi: “Trời ơi, Trời ơi”.
Ẩn Phong không rõ nguyên do, không thể đối đáp. Bất đắc dĩ, Ẩn Phong lại về đến bên Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, đem tình cảnh tham vấn Thạch Đầu Hi Thiên nói qua một lần. Mã tổ Đạo Nhất Thiền sư chỉ thị: “Ngươi hãy đi một lần nữa. Hễ nghe Thạch Đầu Thiền sư nói: Trời ơi, Trời ơi! Thì ngươi liền bịt miệng ông ta”
Ẩn Phong lại đến Nam Nhạc, và hỏi giống như lần trước: “Là tông chỉ gì?”.
Thiền sư Thạch Đầu liền dùng ngón tay bịt miệng phát ra tiếng hư hư, Ẩn Phong mù mịt không biết làm gì, chỉ đành lại trở về nói hết cho Mã Tổ nghe.
Mã Tổ sau khi nghe xong liền nói: “Ta đã nói với ngươi rồi, đường đá trơn trợt lắm mà!”. 


ÁNH TRĂNG SOI ĐƯỜNG VỀ 

Có một vị Thiền sư sống trong một am tranh chật hẹp, đời sống rất là giản dị. Một hôm trời tối, Thiền sư đi giảng kinh ở ngoài trở về, có tên trộm vào am ngài. Nhờ ánh trăng mà tên trộm nhìn thấy Thiền sư đã về đến, vì không còn chạy kịp nên rất lo lắng, không biết làm thế nào đây ? Thấy Thiền sư đi với hai tay không và vẻ mặt vui vẻ thì tên trộm nghĩ: 
- Bây giờ phải tẩu thoát thôi, bằng không để ông ấy bắt thì nguy, và đây là y phục của ông vậy mình lấy mặc ngay.
 Tên trộm quơ tay lấy y phục mặc vào rồi tháo chạy. Thiền sư nhìn thấy tên trộm dưới ánh trăng liền cảm động thở dài: 
- Đáng tiếc là ta không thể đem trăng để đưa ông đi mà chỉ nhờ ánh trăng soi đường về của ông thôi! 


TÁNH TÌNH 

Một thiền sinh đến phàn nàn với Bankei: “Bạch thầy, con có một tánh xấu bất trị, làm sao con sửa chữa được?”
Bankei đáp: “Con có cái gì lạ lắm à? Hay đưa thầy xem nào.”
Thiền sinh nói: “Ngay bây giờ con không tỏ cho thầy được.”
Bankei hỏi: “Vậy khi nào con có thể tỏ cho thầy biết được?”
Thiền sinh đáp: “Nó xuất hiện bất ngờ lắm.”
Bankei kết luận: “Rồi, nó không phải là bản tánh chân thật của con. Nếu nó là bản tánh của con, con có thể tỏ cho thầy được bất cứ lúc nào. Khi mới sinh, con không có nó, và cha mẹ con cũng không cho con. Hãy nghĩ kỹ coi.” 


THIỀN CỦA PHẬT 

Phật nói: “Ta xem những nơi các vua và các nhà cầm quyền cai trị như là những hạt bụi. Ta xem những kho vàng và châu ngọc như những viên gạch và những viên sỏi. Ta nhìn những chiếc áo lụa tốt đẹp nhất như những mảnh vải rách tả tơi. Ta thấy vô số thế giới của vũ trụ này như những hạt trái cây, và chiếc hồ lớn nhất ở Ấn Độ như một giọt dầu trên bàn chân ta. Ta biết những giáo lý của thế gian là những ảo thuật của những tên phù thủy. Ta thấy rõ tư tưởng cao siêu của sự giải thoát như là một miếng nhung vàng trong giấc mộng, thấy thánh đạo của những kẻ thông sáng như những đóa hoa xuất hiện trước mắt một người. Ta xem sự Thiền định như là một trụ cột trên núi cao và Niết Bàn là một cơn mộng du giữa ban ngày. 


LÁ THƯ CHO NGƯỜI HẤP HỐI 

Bassui viết lá thư sau đây gửi cho một đệ tử sắp chết:
“Bản tánh của tâm con không sinh, vì thế nó không bao giờ chết. Nó không phải là một hiện hữu, nên nó không biến mất. Nó không phải là cái trống rỗng, mà là cái chân không. Nó không có màu sắc và hình thể. Nó không hưởng thụ khoái lạc và không chịu sự đau đớn.
Thầy biết con bệnh nặng lắm. Giống như một người học thiền giỏi, con đang đối diện hoàn toàn với sự đau đớn. Có thể con không rõ ai là kẻ đang đau khổ, nhưng hãy hỏi chính con: “Bản tánh của tâm này là gì?”. Hãy nghĩ một điều này thôi. Con sẽ không cần gì nữa. Đừng ham muốn gì cả. Sự chấm dứt của con không chấm dứt, nó giống như một bông tuyết trong trắng tan biến trong thinh không tinh khiết.” 


THỜI ĐỂ CHẾT 

Thiền sư Ikkyu từ lúc bé đã rất thông minh. Thầy của Ikkyu có một cái tách trà xưa rất quý và hiếm có. Ikkyu lỡ tay đánh vỡ tách trà, lòng rất xao xuyến. Nghe tiếng chân thầy đến gần, Ikkyu nhanh nhẹn đấu những mảnh vỡ ra đằng sau. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Thưa thầy, tại sao người ta phải chết?”
Ông thầy già cắt nghĩa:
“Đó là lẽ tự nhiên. Mọi vật đều phải chết vì đã sống lâu rồi.”
Ikkyu đưa cái tách vỡ ra nói:
“Thế đã đến lúc cái tách của thầy phải chết.” 


LÃNH CHÚA ĐẦU BÒ 

Hai Thiền sư Daigu và Gudo được một vị lãnh chúa mời. Khi đến, Gudo nói với vị lãnh chúa: “Bản tánh ngài thông minh, có khả năng bẩm sinh để học Thiền”.
Daigu nói:
“Vô lý. Tại sao anh nịnh cái đầu bò này? Ông ta có thể là lãnh chúa, nhưng ông ta không biết gì về Thiền hết”.
Vì thế, thay vì vị lãnh chúa xây môt ngôi đền cho Gudo, ông ta lại xây nó cho Daigu và học Thiền với ông này. 


KHÔNG PHẢI LÀ THẦY

Thiền Sư Động Sơn Lương Giới Sư họ Du thuở nhỏ theo thầy học đạo. Một hôm tụng Bát- Nhã Tâm Kinh, đến câu “ Không có mắt, tai. mũi, lưỡi, thân, ý”, Sư liền sờ lên mặt mình mà hỏi thầy rằng: “Con có đầy đủ sáu căn, vì sao kinh nói không có?” 
Sư tổ kinh ngạc nói: “Bao nhiêu năm đọc kinh ta vẫn không thấy điều nầy, con đã hơn ta rồi, ta chẳng phải là thầy của con, hãy qua tham lễ Thiền Sư Linh Mặc ở núi Ngũ Duệ”.


CHÉM CÁI "NHÁT"

Miyamoto Musashi được xem là một kiếm sĩ vô địch. Một hôm ông được lãnh chúa Hosokawa tiếp, và hỏi trong số thủ túc của ông có ai là tay kiệt xuất. Miyamoto đưa tay chỉ vào một thuộc hạ có tên là Yoko Tahei . Lãnh chúa hỏi làm sao Yoko có được dũng khí.
Yoko đáp: 
-Tôi nhận ra mình thật quá hèn nhát và tôi đã tìm ra phương pháp để luyện dũng khí . Tôi tự đặt mình trong tâm trạng luôn luôn có thể bị bửa ra làm hai. Để đạt được tâm trạng đó, tôi tọa thiền và khi ngủ tôi treo một thanh kiếm trên trần, mũi hướng thẳng vào yết hầu của mình. Thoạt tiên nỗi khiếp sợ làm tôi không tài nào an giấc. Nhưng giờ đây tôi đã ngủ thoải mái. Mỗi ngày khi ra đi thi hành nhiệm vụ, tôi đều tự nhủ không cần nghĩ đến còn sống để trở lại.


CHÂN PHẬT

Có người hỏi thiền sư Lâm Tế : “Chân Phật là gì, chân Pháp là gì, chân Đạo là gì ?”
Thiền sư đáp : “Phật thật là sự thanh tịnh của tâm mình, Pháp thật là ánh sáng của thân mình, Đạo thật là ánh sáng thanh tịnh chiếu soi khắp chốn. Ba cái vốn là một, đều là giả danh, không thật có. Người học đạo chân chính thì phải duy trì chánh niệm về ba đối tượng ấy một cách miên mật… Nếu quý vị đạt tới tính vô sinh của vạn pháp, biết rằng tâm là huyễn hóa, thật ra không có một đối tượng nào, một hiện tượng có thật. Bất cứ đâu đâu cũng là thanh tịnh thì đó là Phật rồi. 


BẤT BIẾN VỚI VẠN BIẾN

Thiền sư Đạo Thọ xây dựng một ngôi tự viện gần miếu quán của một đạo sĩ. Đạo sĩ không vừa ý nên biến thành ma quỷ đến nhiễu loạn, muốn thiền sư bỏ đi. Đạo sĩ dùng hết phép thuật mà thiền sư Đạo Thọ vẫn không đi. Đạo sĩ không còn cách nào hơn, đành bỏ miếu quán dời đi nơi khác.
Sau này, có người hỏi :
- Các đạo sĩ có phép thuật cao cường, sao thầy thắng được họ?
Đạo Thọ nói:
- Ta không có gì để thắng được họ cả, miễn cưỡng mà nói, chỉ có một chữ “Không” mới thắng được họ.
- Chữ “Không” làm sao thắng được họ?
- Họ có phép thuật, phép thuật có giới hạn, có lúc phải hết; còn ta không phép thuật, có nghĩa là không giới hạn không cùng tận. Sự quan hệ giữa có và không là bất biến ứng với vạn biến. Ta không biến đương nhiên sẽ thắng biến hóa.


CAO VÀ XA

Học tăng muốn vẽ một bức tranh ở trước thiền viện Long Hổ Tự, mô phỏng theo một bức họa rồng và cọp vồ nhau. Trong bức tranh, rồng ở trong mây lượn vòng xuống dưới, còn cọp ngồi xổm trên ngọn núi, làm thế muốn vồ về phía trước. Tuy nhiên đổi tới đổi lui nhiều lần, nhìn tổng quát vẫn cảm thấy động tác chưa giống như thật. Đúng lúc ấy Thiền sư Vô Đức từ bên ngoài trở về, học tăng liền xin ý kiến của thiền sư.
Thiền sư Vô Đức sau khi xem tranh rồi nói:
- Ngoại hình của rồng và cọp vẽ đã đạt chẳng nên xoá bỏ, riêng đặc tánh của rồng và cọp các huynh hiểu biết còn hạn chế. Rồng ở tư thế trước khi tấn công, đầu cần phải rút lùi về phía sau. Cọp khi muốn chồm về trước, đầu tất nhiên tự hạ xuống đất. Cổ rồng càng hướng về sau thì sức quật lại càng mạnh. Đầu cọp càng hạ sát mặt đất, thì nó liền có khả năng tấn công càng nhanh và nhảy lên lại càng cao. Đạo lý tham thiền tu đạo cũng giống như thế, chuẩn bị lùi lại một bước về sau, thì khả năng tiến về trước càng xa, sau khi phản tỉnh khiêm nhường thì năng lực vươn lên lại càng cao. 


NÚI CHẲNG DỜI THÌ TA DỜI 

Nhóm đệ tử ham thích thần thông hỏi sư phụ:
- Thầy ơi, thầy chỉ tụi con thuật di sơn đảo hải (dời non lấp biển) đi.
- Được, vậy các con hãy đứng đây, chú tâm nhìn vào ngọn núi đằng kia... Thầy sẽ làm cho nó xích lại gần ta.
Các đệ tử tập trung dòm núi suốt 3 ngày 3 đêm mà chẳng thấy có tác dụng gì cả,... khi thấy sư phụ từ trong nhà thong thả đi ra thì liền nhao nhao lên:
- Thầy ơi, sao chẳng thấy ngọn núi đó động đậy gì cả vậy?
- Vô dụng, vô dụng! Các con tu tập bao lâu rồi mà vẫn còn chấp cái ngọn núi!?!
- Dạ chúng con không hiểu ạ.
- Vậy thì đi theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.
Sau khi dẫn đám đệ tử đến chân núi, sư phụ dừng lại bảo:
- Các con đã thấy núi xích lại gần ta chưa?
- Dạ gần, nhưng đó là do Thầy đi đó chứ...
- Chẳng phải là núi không thể dời đi, nhưng để dời nó đi một li, ta phải tốn công gấp tỉ lần ta đi tới nó. Vậy sao cứ phải cố chấp vào việc núi dời chi vậy?! 


CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI 

Một đệ tử thích lý luận hỏi sư phụ:
- Thưa thầy, con tu tập bao lâu rồi mà vẫn chưa tìm ra được cái chân lý tuyệt đối! 
- Vậy từ đó đến nay con có thấy cái gì là hoàn toàn đúng không thể chối cãi được không?
- Dạ có.
- Con thử kể một cái như vậy ra xem.
- Dạ, ví như chuyện sanh-tử, không có ai sinh ra đời rồi mà không chết đi cả.
- Vậy đó chính là chân lý rồi đó thôi.
- Nhưng thưa Thầy, chân lý đó chưa là tuyệt đối, vì có người nói là có thể trường sinh bất lão. Thậm chí có người còn đưa ra bằng chứng về một người sống suốt mấy ngàn năm nay vẫn chưa chết.
- Vậy con có tin không?
- Dạ con không tin, nhưng không có cách nào phản bác họ được.
- Con tin, tức đó là chân lý của con vậy.
- Dạ thưa... Nếu chỉ là chân lý của con thì sao gọi là tuyệt đối được ạ?!
- Cái "chân lý tuyệt đối" con tìm chẳng qua chỉ là cái lý có chân mà thôi! 
- Dạ, xin thầy giảng cho con được rõ hơn ạ.
- Này nhé, ta có thể đưa ra một chân lý khác mà nhiều người chấp nhận hơn, và cho đến hết đời này con cũng không tìm ra được ai phản đối nó cả, nhưng đó cũng chẳng thể tuyệt đối như con muốn được. Chân lý là sản phẩm của con người, là phát biểu của con người về thế giới, tất phải phụ thuộc vào người hoặc nhóm người phát biểu nó. Hễ khi nào con còn chấp vào hai chữ "tuyệt đối" thì chẳng bao giờ con tìm ra được chân lý, hoặc là chúng nó phải có chân để chạy đi từ người này qua người khác, từ quan điểm này qua quan điềm khác vậy. 


GIỌT NƯỚC CÀNH DƯƠNG 

Một vị nữ tu xuất gia ở chùa. Cô bị đau tim, con nhà nghèo, học vấn kém. Cô hay tủi thân, mặc cảm vô phước nên cứ buồn khóc hoài! Đồng đạo khuyên lơn, cô lại càng khóc nhiều hơn! 
Một hôm Sư Tổ đến thăm chùa, sư cô trụ trì trình bày sự tình và dẫn cô ra nhờ Sư khuyên giùm, biết đâu có duyên giúp cô bớt khổ được.
Sư nói:
- Ờ! Khóc được cứ khóc, mà thay vì khóc cho bản thân mình, nên khóc giùm cho kẻ khác, mình sẽ hết khổ. Sự thật dù định mệnh có khắt khe đến đâu, nhìn kỹ xung quanh mình vẫn còn có biết bao người đáng khóc hơn, đau khổ hơn. Khóc thương cho kẻ khác, con sẽ được niềm vui. Nhìn ra sân chùa thấy tượng Quan Thế Âm lộ thiên tay cầm tịnh bình, tay cầm nhành dương liễu, Sư nói tiếp:
- Giọt nước mắt vị tha là giọt nước cành dương, nó rưới tan những ưu sầu phiền não. Còn giọt nước mắt khóc cho bản thân là giọt lệ đắng cay! Tánh hay khóc thì khóc giùm cho người ta, mình sẽ hết khổ. 


TÍNH BUÔNG 

Một nông dân gặp Sư, anh hỏi:
- Bạch Thầy, chừng nào sẽ tới thời mạt pháp, thời thế nhiễu nhương.
- Chi vậy?
- Đặng coi gần tới mình buông!
- Chờ ăn không được mới buông ai mà mang ơn, muốn buông thì buông trước đi! 


BÌNH THIÊN KHÔNG BÌNH ĐỊA 

Một tín đồ hỏi:
- Mình thương con cháu đồng như nhau, nhưng sự lo lắng giúp đỡ không đồng. Vậy có bất công không?
Sư đáp:
- Không bất công đâu! Tình thương như nước, bằng mặt trên chớ không bằng mặt dưới (Bình thiên không bình địa). Mặt nước tuy phẳng nhưng đáy nước chỗ sâu chứa nhiều, nơi gò nỗng chứa ít nước hơn. Con cháu mình thương đồng nhưng đứa nào khờ khạo tật nguyền thì mình lo cho nó nhiều hơn đứa khôn ngoan giỏi dắn. 


SỐNG CHẾT LÀ MỘT 

Có người hỏi:
- "Sống chết là một". Bạch Thầy là sao?
Thầy đáp:
- Mỗi một ngày qua, có thể nói mình sống thêm được một ngày, hay bảo rằng mình đã chết đi hết một ngày cũng đều đúng! 


TÔN GIÁO GIEO MÊ TÍN ? 

Một người ngoại đạo hỏi Sư: 
- Tôn giáo sao hay gieo mê tín quá vậy ? Chừng gỡ được cũng trầy vi tróc vẩy.
Sư đáp:
- Không phải đâu! Mê tín là khởi nguyên của tôn giáo. Nếu không có mê tín sẽ không có tôn giáo. Có điều một chánh giáo thì dẫn người ta từ mê tín đến trí tín, từ bờ mê sang bến giác. Còn tà giáo thì gây mê mờ thêm, đưa người đi sâu vào mê lộ! 

TỈNH DẬY 

Thế gian này có quá nhiều chuyện phiền não, vì vậy, rất nhiều người đi gặp Phật cùng hỏi về một vấn đề: "Con nên làm thế nào mới không còn những điều phiền muộn?" 
Phật đều trả lời giống nhau:
- Chỉ cần buông ra, con sẽ thôi không phiền não nữa.
Có một đạo sĩ tỏ ý không phục, bèn đi gặp Phật và hỏi:
- Trên thế gian này có hàng ngàn hàng vạn người, thì sẽ có hàng ngàn hàng vạn điều phiền não. Nhưng, Người cho họ giải pháp đều hoàn toàn như nhau, vậy đó chẳng buồn cười lắm sao?
Phật không nổi giận, chỉ hỏi ngược lại đạo sĩ:
- Buổi tối ông ngủ có thường hay nằm mơ không?
- Đương nhiên là có! 
- Vậy, mỗi buổi tối nằm mơ, giấc mơ đều như nhau không?
- Đương nhiên là khác nhau rồi!
- Ông ngủ hàng ngàn hàng vạn lần, thì sẽ mơ hàng ngàn hàng vạn lần giấc mơ. Nhưng cách kết thúc giấc mơ, đều như nhau cả, đó là: "tỉnh dậy!" 


SAU KHI CHẾT GẶP NHAU Ở ĐÂU 

Sư viếng một ông tăng bị bệnh. Sư hỏi:
- Nếu sư đệ chết và chỉ để lại cái xác ở đây thì tôi có thể gặp sư đệ ở đâu?
Ông tăng bị bịnh đáp:
- Tôi sẽ gặp sư huynh ở chỗ không có gì sinh và không có gì tử.
Sư không hài lòng với câu đáp, nói:
- Sư đệ nên nói rằng không có chỗ nào không có gì sinh và không có gì tử, và chúng ta chẳng cần thấy nhau chi hết. 


CHÙA NAM - CHÙA BẮC 

Một đệ tử từ chùa Bắc đến thăm chùa Nam. Đệ tử chùa Nam nói:
- Chùa phương Nam của chúng tôi không phải là thượng đẳng so với chùa ở phương Bắc.
Đệ tử chùa Bắc không biết nói gì, nên im lặng. Khi trở về kể lại những gì đệ tử chùa Nam đã nói. 
Sư nói:
- Chú nên nói với ông ấy rằng bất cứ ngày nào tôi cũng sẵn sàng nhập niết bàn. 


CHỮ TÂM 

Một thiện nam viết chữ “Tâm”, kiểu chữ Hán, tượng hình cho trái tim, lên cổng, cửa sổ và tường của ngôi nhà nhỏ của ông ta. Một thiền sinh nghĩ như vậy là sai và muốn sửa lại cho đúng, nói:
- Cổng phải có chữ cổng, cửa sổ và tường mỗi cái phải có chữ riêng của nó.
Sư nói: 
- Cổng tự nó hiện bày chẳng cần có chữ, cửa sổ và tường cũng vậy, chẳng cần bảng hiệu gì cả. 


ĐỊA TẠNG PHẬT PHÁP 

Một hôm Địa Tạng tiếp một đệ tử của Bảo Phước như một vị khách và hỏi ông ta: 
- Thầy ông chỉ dạy ông như thế nào trong Phật pháp?
Ông tăng đáp:
- Thầy chúng con bảo chúng con nhắm mắt lại, chớ thấy điều ác; bịt tai lại, chớ nghe tiếng ác; dừng tâm suy nghĩ lại, chớ tạo ý nghĩ sai lầm.
Địa Tạng nói:
- Tôi không đòi hỏi ông bịt mắt lại, mà không thấy điều ác. Tôi không đòi hỏi ông bịt tai lại, mà không nghe tiếng ác. Tôi không đòi hỏi ông dừng tâm suy nghĩ, mà không tạo ý nghĩ sai lầm nào cả. 


ĐÁNG ĐÁNH ĐÒN 

Cảnh Thanh hỏi một ông tăng mới, từ đâu đến. Ông tăng đáp:
- Từ Tam sơn đến.
Cảnh Thanh hỏi tiếp:
- Mùa an cư vừa rồi ở đâu? 
Ông tăng đáp: 
- Ở Ngũ nhạc.
Cảnh Thanh nói:
- Tôi sẽ đánh ông ba chục gậy bự này.
Ông tăng hỏi:
- Tại sao con đáng ăn gậy của hòa thượng?
Cảnh Thanh đáp:
-Tại vì ông bỏ chùa này tới chùa kia. 


QUAN THƯỢNG THƯ 

Thượng thư Trần Tháo đi lên cầu thang với những người trong ban tham mưu của ông. Khi thấy một nhóm tăng nhân đi ngang qua dưới đường lộ, một trong các quan thuộc hạ hỏi: 
- Họ có phải là tăng nhân thiền hành không? 
Trần Tháo đáp:
- Không.
Viên chức ấy hỏi:
- Làm sao đại nhân biết họ không phải là tăng thiền hành ?
“Để khám nghiệm xem” Trần Tháo đáp xong liền kêu to:
“Này! chư tăng!” Nghe tiếng gọi, tất cả nhìn lên cửa sổ. Trần Tháo nói:
- Đó! Không phải tôi đã nói với ông như vậy sao? 


CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU 

Một thiền sinh trẻ tuổi lần đầu tiên tới thăm một thiền sư. Vừa ngồi xuống, anh huênh hoang cất giọng thao thao:
- Làm gì có tâm trí, có thân xác, có thiện, có ác! Thầy chẳng có, trò cũng không; chẳng có cái cho đi, cũng chẳng có cái nhận về; có cái gì trên đời này mà là thật đâu. Cái chính thật là Hư Vô! 
Vị thiền sư ngậm ống điếu bình thản ngồi nghe không thốt nửa lời. Chợt thiền sư với lấy chiếc roi bất thần giáng một cái thật mạnh lên người thiền sinh. Thiền sinh hốt hoảng vùng dậy, không giấu được về giận dỗi, nhưng còn lúng túng chưa biết nói sao. 
Thiền sư điềm tĩnh cất lời:
- Nếu quả thực chẳng có gì trên đời này là thực và tất cả là hư vô, thì sự giận dữ của người từ đâu đến? 


SỬA ĐỔI THIÊN NHIÊN 

Hai chú tiểu ngồi dưới gốc cây bồ đề, một chú nhận xét: 
- Thiên nhiên có những điều bất cân xứng cần phải sửa chữa lại. 
Chú khác hỏi: 
- Thí dụ cái gì bất cân xứng? 
- Thì chú thấy đó, bên kia cây dưa hấu nhỏ như vậy mà trái thật to, còn cây bồ đề to tướng thế này mà trái nhỏ xíu! 
Ngay khi đó gió thổi rụng những trái bồ đề trên đầu họ. Chú tiểu kia nói: 
- May mà chú chưa kịp sửa thiên nhiên, chứ không thì bể đầu cả đám! 


TU SỬA 

Một thiền sinh hỏi: 
- Có phải tu là sửa không ? 
Sư nói : 
- Không. 
- Vậy là không sửa ?
- Cũng không .
Thiền sinh không hiểu, thắc mắc: 
- Như vậy tu phải làm sao ? 
Sư đáp : 
- Không sửa thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái khác. 


MỤC ĐÍCH 

Một võ sư lừng danh hỏi người đệ tử mới nhập môn: 
- Con muốn học võ à? 
- Vâng, con muốn học võ để chiến thắng kẻ địch. 
- Con ạ, còn nghĩ đến chiến thắng và kẻ địch thì chưa học võ được đâu vì còn hiếu thắng. 
- Vậy con chỉ học võ để tự vệ thôi. 
- Còn đề kháng tự vệ cũng chưa học võ được vì còn vị kỷ.
- Nếu vậy con học võ để làm gì? 
- Lại để làm gì ! Chung quy con vẫn còn vướng vào một mục đích. 
Võ sinh ngạc nhiên : 
- Nhưng làm thế nào có thể học võ mà không có mục đích? 
Võ sư ung dung bước ra giữa võ đường múa một bài quyền và nói: 
- Anh cứ thế mà làm không được sao ? 


TRẢ ĐŨA 

Lão hành khất vào ngồi trong hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày: ít vắt cơm, muối và... một con cá rô cây.
Người gác chùa quan sát bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng. Ông hỏi người hành khất với giọng châm biếm: 
- Này ông lão, ông làm gì với con cá gỗ ấy hay cuối cùng cũng chỉ cơm với muối?
Lão hành khất bình tĩnh đưa tay chỉ tượng Phật bằng đá trên tòa sen giữa chánh điện trả đũa: 
- Này ông bạn, còn ông làm gì với tượng Phật đá kia hay cuối cũng cũng chỉ vô minh với ái dục? 


CHẲNG CÓ AI TIN 

Thị giả của Phật Tổ Thích Ca là Ngài A-nan được lịnh xuống trần xem thời mạt pháp như thế nào. Chẳng bao lâu, Ngài đã trở về trình bạch: 
- Bạch Đức Thế Tôn! Hình như sau khi thế Tôn nhập diệt, ở dưới trần còn có nhiều Phật khác xuất hiện. 
- A- nan, sao con lại nói vậy? 
- Bạch Thế Tôn! Thứ nhất là có nhiều hình tượng Phật diện mạo khác nhau, dĩ nhiên là khác xa Thế Tôn, được thờ cúng khắp nơi. Hai là có nhiều kinh điển, pháp môn đều nhận là giáo lý của Thế Tôn nhưng khác xa giáo pháp mà con đã được nghe và thuộc nằm lòng do chính Thế Tôn thuyết giảng. Ba là có rất nhiều tông phái khác nhau tự xưng là truyền thừa chính thống từ Thế Tôn, nhưng hoàn toàn mâu thuẫn với nhau... Chính vì vậy, con chắc rằng có nhiều Phật đã xuống trần sau khi Thế Tôn nhập diệt. 
- A-nan, chớ có nói vậy. Sau Như Lai, chỉ có Phật Di-Lặc mà thôi. Nhưng Bồ Tát Di-Lặc chưa đến thời giáng thế. Vậy nếu có ai xưng Phật, chắc chắn là Phật giả. Con mau xuống trần đính chính kẻo chúng sanh lầm lạc. 
- Bạch Thế Tôn! Con không thể đi được, vì từ lâu họ đã gán cho con là tiểu thừa rồi, chẳng còn ai tin con nữa! 
- Thôi A-Nan, thời mạt pháp nghiệp dĩ như vậy thì cứ là như vậy. 


ĐỒNG HAY BẤT ĐỒNG 

Một học giả nghiên cứu về những điểm dị đồng giữa các tôn giáo hỏi ý kiến Sư: 
- Đạo Khổng nói “thuận thiên lập mệnh”, Đạo Thiên Chúa nói “vâng ý Cha”, Đạo Lão nói “Đạo pháp tự nhiên”, còn Đạo Phật cũng nói “Tùy Pháp Hành”. Những giáo lý ấy có giống nhau không? 
Sư nói: 
- Giống ở người thấy, không giống ở người không thấy. 


PHÂN BIỆT MINH BẠCH 

Sư giảng pháp nói: 
- Các vị cần phải nghiêm mật thận trọng trong mỗi hành vi động tịnh của thân, khẩu, ý; phải lấy trí tuệ phân biệt minh bạch vi tế đối với thiện ác, đúng sai, chân giả, xấu tốt v.v... Nếu không, chẳng biết khi nào ra khỏi sông mê bể khổ... 
Một thiền sinh đứng dậy thưa: 
- Xưa nay kinh luận cũng như thiền đều nói: “Tâm vô phân biệt”, sao Thầy lại dạy phân biệt quá minh bạch như vậy?
Sư hỏi: 
- Vậy đưa anh một chén cơm với một chén đất, anh ăn chén nào? 


VÔ NGà

Từ khi vào thiền viện, anh nhất định phải thực hiện tinh thần vô ngã mà anh đọc được trong một số sách thiền: thể nhập pháp giới. 
Một ngày kia anh mừng rỡ trình với Sư: 
- Thưa Thầy, con đang tưới hoa, bỗng thấy con với hoa là một. 
Sư nói: 
- Anh đã thấy anh với hoa là một thì cứ việc tưới anh là được, cần gì đi tưới hoa cho mệt! 


TRÀ ĐẠO 

Khách đến viếng một trà thất, chủ nhân tiếp đón theo nghi phong trà đạo Nhật Bản. Khách thì lại cứ rót trà uống tự nhiên không theo luật lệ nào cả. 
Thấy vậy, chủ nhân khéo léo thuyết minh về trà đạo, về cách pha trà và phong thái uống trà v.v... 
Nghe xong, khách nói: 
- À, thì ra trà đạo là vậy! Tôi cứ tưởng đạo trà là khát thì uống thôi chứ. 
Rồi khách xuất khẩu ngâm: 
Xưa nay trà là đạo 
Khát chỉ việc uống thôi 
Nghĩ thêm trà với đạo 
Đầu thượng trước đầu rồi! 


BỊ TỰ DO NGĂN NGẠI 

Một thiền sinh mới nhập môn quen sống phóng túng theo kiểu “thiền du hí” của anh từ lâu, nên không thể nào chấp nhận luật lệ quá nghiêm cẩn của thiền viện. Anh nói: 
- Thiền là tự do giải thoát. Thiền giải phóng con người ra khỏi mọi ràng buộc, vì sao thiền viện này giới luật khắt khe như vậy? 
Sư nói: 
- Người thật sự tự do thì có thể ung dung trong ràng buộc, cho nên ràng buộc tuy có mà không. Còn người không chịu nổi ràng buộc, vì chưa đủ sức tự tại vô ngại, cho nên ràng buộc vốn không bỗng trở thành ngăn ngại. Tiếc thay, chính anh đã bị tự do ngăn ngại mất rồi! 


CỬA TRỜI RỘNG MỞ 

Chư Thiên cõi trời Đao Lợi nhìn xuống cõi trần thấy nhiều người đau khổ, động lòng từ liền bạch với vua trời Đế Thích: 
- Tâu Bệ Hạ, xin Ngài rủ lòng từ bi mở cửa cho người trần được vào thiên giới, như thế mọi người mới được công bằng bình đẳng. 
- Không được, nghiệp dĩ thế nào phải chịu như vậy mới gọi là công bằng. 
Nhưng Chư Thiên cứ tâu mãi nên Vua Trời đành cho mở cửa. 
Chẳng bao lâu Vua Trời phải triệu tập Chư Thiên để thành lập lực lượng phòng chống tệ nạn xã hội và soạn thảo bộ luật hình sự. 


TRIẾT HỌC LÀ GÌ 

Để mở mang kiến thức ngoại điển, Sư cho tăng chúng học thêm triết học Đông Tây. Sau nhiều giờ học, một chú tiểu hớn hở nói với bạn: 
- Đến nay, tôi đã hiểu triết học là gì rồi. 
Chú tiểu kia thì đang mù tịt cái môn phiền phức này nên như người chìm vớ được phao: 
- Nói nghe mau đi, triết học là gì vậy? 
- Ối, có gì đâu! Triết học chỉ là một hệ thống ngôn ngữ phức tạp nói về những điều giản đơn đó mà! 


SINH LÃO BỊNH TỬ 

Sau nhiều năm tinh tấn tu hành, một vị tăng vẫn không sao đạt được mục đích mà ông hướng đến là thoát ly sinh, già, đau, chết. Đang lúc buồn nản thì Sư đến thăm. Vị tăng hỏi: 
- Làm sao thoát khỏi sinh - lão - bịnh - tử?
Sư than: 
- Chỉ tội cho Sinh - Lão - Bịnh - Tử thoát không khỏi ông! 


SẮC KHÔNG 

Sư ghé thăm một vị tăng nổi tiếng uyên thâm Phật Pháp và có nhiều sở đắc. Vừa thấy Sư, vị tăng dùng phép thần thông ẩn mình đâu mất. 
Sư hỏi: 
- Ông làm gì vậy? 
Vị tăng nói: 
- Đó là “sắc tức thị không”. 
Sư nói: 
- Đã “sắc tức thị không” sao ông lại phải biến mất làm gì. Hơn nữa ông chỉ mới giấu được cái sắc thân, còn cái bản ngã của ông xem ra lại càng lộ rõ hơn! 
Vị tăng cả giận hỏi lại:
- Còn Thầy thì sao? 
Sư đáp: 
- Ngươi không thấy ta “sắc bất dị không” hay sao? 


THÁNH KHÔNG BIẾT ĐAU 

Thị giả của Sư nghe người ta kể rằng chủ nhà của hiền triết Epitète đối xử với ông rất tệ. Người chủ cho vặn chân Épitète để tiêu khiển. Nhà hiền triết nói: 
- Nếu ngài tiếp tục thì chân tôi sẽ gãy. 
Nhưng người chủ vẫn tiếp tục và chân ông gãy thật. Epitète ôn tồn nói: 
- Đấy, tôi nói có sai đâu. 
Nghe xong, thị giả cứ khen hoài: “Thật là một nhà hiền triết siêu việt!” Rồi thị giả chợt nghĩ rằng: “Thầy mình là một thiền sư nổi tiếng, vậy để xem có bằng Épitète không?” Nhân Sư đang nằm nghỉ, thị giả tụm lấy chân Sư vặn mạnh. Sư nói: 
- Đau, đau. 
Thị giả thất vọng nói:
- Còn đau thì đâu phải là đạt đạo! 
Sư nói: 
- Chứ ngươi muốn ta đạt cái đạo vô cảm giác hay sao? 


THIỀN ĐỊNH LÂU NHẤT 

Sư hỏi các đệ tử: 
- Trong các con, ai hành thiền định lâu nhất? 
Các đệ tử lần lượt thưa: 
- Con nhập định một giờ. 
- Con nhập định một ngày.
- Con nhập định bảy ngày. 
Cuối cùng, một người đệ tử thưa: 
- Thưa Thầy, con không biết con nhập bao lâu, chỉ biết là con đang thở từng hơi thở mà thôi. 
Sư mừng rỡ nói: 
- Thế mà con thiền định lâu nhất đó. 


THIÊN THỦ THIÊN NHÃN 

Một thiền sinh hỏi: 
- Thưa Thầy, theo Mật Tông, Đức Chuẩn Đề có ngàn tay ngàn mắt là ý nghĩa gì? 
Sư nói: 
- Ngươi cũng có ngàn tay ngàn mắt nhưng chưa vô ngại đại bi đó thôi. 
- Làm sao con có ngàn tay ngàn mắt được? 
- Sao lại không? Nóng lạnh, đói no, vui buồn, mừng giận, đẹp xấu, dở hay, phải trái,... cho đến ngàn chuyện ngươi đều biết, đó không phải ngươi có ngàn mắt hay sao? Lại còn làm lụng, đi đứng, ăn ngủ, nói năng, suy tính, tạo tác, động tịnh,... cho đến ngàn việc ngươi đều làm được, đó không phải ngàn tay là gì? 


BẮT CHƯỚC THIỀN SƯ 

Nhiều thiền sinh sau khi đọc hành trạng của các thiền sư cổ đức, mỗi người tâm đắc hành trạng của một vị thiền sư nào đó và bắt chước y hệt những gì ghi lại trong các ngữ lục. 
Có thiền sinh đưa lên một ngón tay, thiền sinh khác chỉ cây tùng trước sân, có người toan chẻ tượng Phật, có người lại định giết cả mèo v.v... 
Sư nói: 
- Các sách vở chỉ ghi chép một điểm nhỏ trong đời sống phong phú của các thiền sư, các ngươi chỉ bắt chước được một điểm nhỏ đó thôi chứ làm sao bắt chước được đời sống toàn diện của các Ngài. Chẳng lẽ các Ngài suốt đời chỉ làm một chuyện đó thôi sao? 


KHÔNG CÓ ĐƯỜNG ĐẾN NIẾT BÀN 

Ai cũng biết mục đích tối hậu của Đạo Phật là Niết Bàn. Như vậy, chẳng cần nghĩ bàn gì, người ta cứ việc khẳng định rằng Đạo Phật chính là con đường đi đến Niết Bàn đó. 
Nhưng Sư lại nói: 
- Chẳng bao giờ có con đường đến Niết Bàn, chỉ có đường vào luân hồi sinh tử mà thôi.
Các thiền sinh rất lấy làm lạ, thắc mắc: 
- Như vậy, Đức Phật dạy Đạo để làm gì? 
Sư nói: 
- Đạo chỉ để xóa tan Tập đế, như ánh sáng xóa tan bóng tối chứ đâu phải đường đến Niết Bàn. Ví như trong bóng tối anh không tự nhìn thấy mình, đến khi thắp đèn lên mới thấy được mình. Như vậy, anh không cần phải đi đâu mà tìm kiếm chính anh. Niết Bàn cũng y như vậy. 


CẢNH GIỚI LÝ TƯỞNG CỦA THIỀN 

Một thiền sinh nói: 
- Cảnh giới lý tưởng nhất của thiền là hoàn toàn tự do thoải mái. Tất cả luật lệ, khuôn phép,, giáo điều, lễ nghi, quy tắc v.v... đều chỉ là những ràng buộc, nên chúng hoàn toàn vắng bóng trong thế giới thiền.
Một thiền sinh khác cãi lại: 
- Cảnh giới lý tưởng nhất của thiền là hoàn toàn nghiêm túc. Anh không nghe người ta nói “trang nghiêm Phật Quốc” hay sao? Vì vậy theo tôi, cái gì thiếu quy củ, thiếu điều độ, thiếu nghiêm chỉnh, thiếu mực thước đều là buông lung phóng dật, nên chúng hoàn toàn không có mặt trong thế giới thiền.
Sư nói: 
- Các anh đều đúng, nhưng đó là những cảnh giới lý tưởng nhất trong ý niệm của mỗi người, chứ thiền làm gì có cảnh giới mà nhì với nhất! 


NGỰA HAY KHÔNG CẦN ROI 

Một nhà triết học hỏi Phật : 
-Bạch đức Thế Tôn, làm thế nào mình có thể nói được về thực tại tối hậu, về chân lý tuyệt đối, mà mình không sử dụng hai danh từ có và không (being và non-being)? 
Nghe xong Phật ngồi im lặng, không nói gì hết, và ngồi im lâu thật là lâu. Cuối cùng ông đó đứng dậy, xá Phật ba cái thật sâu rồi từ giã ra về. 
Thầy A Nan ngạc nhiên hỏi: 
-Bạch đức Thế Tôn, sao đức Thế Tôn chẳng nói gì hết mà ông ta lại tỏ lòng kính phục đức Thế Tôn một cách sâu sắc như vậy? 
Phật mới nói rằng: 
-Này A Nan! Đối với những con ngựa hay, con ngựa giỏi thì mình không cần tới cái roi. 

Theo oldcottage.net

VIDEO

AUDIO

    HÌNH ẢNH

    Copyright@ 2014 Chuyenphapluan.com
    Xin ghi rõ nguồn trích dẫn từ website này.
    Mọi ý kiến đóng góp,gởi bài vui lòng gởi về:
    Địa chỉ: Chùa Bửu Thọ - ấp Hòa Thuận 2, xã Mong Thọ A,
    huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
    Email: info@chuabuutho.vn
    vistor counter